Lễ Cúng dòng họ của người Mông


Người Mông rất coi trọng dòng họ, với quan niệm cùng dòng họ là những người anh em có cùng tổ tiên, có thể đẻ và chết trong nhà nhau, luôn giúp đỡ, cưu mang nhau. Từ đó, hình thành lễ cúng dòng họ.

Theo truyền thuyết, xưa có một gia đình ông Pù Su sinh được hai con trai, Su Tủa và anh trai của Su Tủa. Su Tủa có con trai là Long Dềnh, anh trai của Su Tủa có con trai tên là Cử Lỳ Xò. Bố của Cử Lỳ Xò mất khi anh còn nhỏ. Thương cháu, Su Tủa đưa Cử Lỳ Xò về sống cùng gia đình. Cử Lỳ Xò là một người con ngoan, hiếu thảo nên luôn được chú ruột của mình (Su Tủa) yêu thương, quý mến. Do đó, con trai của Su Tủa ghen tỵ, cho rằng bố mình yêu thương người ngoài hơn nên Long Dềnh luôn tìm cách hãm hại Cử Lỳ Xò. Một ngày, Long Dềnh vu khống cho Cử Lỳ Xò có quan hệ bất chính với mẹ mình, Su Tủa đánh đuổi Cử Lỳ Xò ra khỏi nhà, tìm cách để giết cháu mình. Bị gia đình Su Tủa hãm hại nên Cử Lỳ Xò tìm đến nhà của một thầy cúng (người Mông gọi là Sí Dì) nhờ giúp đỡ. Long Dềnh truy đuổi nhưng bị Sí Dì và Cử Lỳ Xò giết chết. Su Tủa đã tìm đến gia đình Sí Dì để trả thù. Hai bên không giải hoà được nên đã xảy ra cuộc chiến sinh tử. Sì Dí dùng mưu lừa Su Tủa và giết chết ông.

Pù Su đến tìm con cháu, bị Sí Dì lừa cho ăn thịt con trai mình. Khi biết con cháu đã bị giết, không làm gì được, ông về nhà, sau già yếu chết. Sau khi chết, Pù Su luôn tìm cách trả thù những người còn sống đã đẩy gia đình ông vào hoàn cảnh khốn khổ.

Sí Dì biết Pù Su trả thù người sống (người Mông gọi những thiệt hại do Pù Su gây ra là vì su vì sừ) nên làm lễ cúng ngăn chặn. Khi Sí Dì chết, không còn người ngăn chặn Pù Su nên Pù Su tiếp tục làm hại con người. Cử Lỳ Xò bàn với một ông cụ họ Mùa (người Mông Hoa) tìm cách gọi Pù Su xuống để giết. Pù Su yếu thế nên phải bỏ về trời và thề cứ đến tháng Tám trăng tròn, tháng Chín trăng khuyết sẽ đến báo thù.

Vì vậy, vào tháng Tám, tháng Chín Âm lịch hàng năm người Mông ở Sơn La mời thầy cúng (Sí Dì) đến cúng cho tất cả dòng họ, đuổi đi, mang đi tất cả những “vì su vì sừ” của Pù Su để dòng họ được an lành, hạnh phúc trọn năm. Tuy nhiên, cũng có một vài dòng họ tổ chức vào tháng 5, 6, 7 tùy vào việc thầy cúng xem được ngày phù hợp với dòng họ. Tham gia lễ cúng là tất cả nam giới trong dòng họ, không kể già, trẻ.

Tùy từng dòng họ, ngành Mông khác nhau mà người Mông tổ chức lễ cúng dòng họ hàng năm hoặc 3 - 5 năm/lần và có tên gọi khác nhau như: Tu Su, Ùa Su, Dù Su, Sầu Su, Dù Tàu, Giữ Máu.

+ Lễ cúng hàng năm: tất cả các dòng họ của người Mông tổ chức cúng cho người cùng dòng họ, thờ cùng ma trong một bản.

+ Lễ cúng 3 - 5 năm/lần, vào ngày 13 hoặc 23 tháng Ba Âm lịch, được tổ chức ở một số dòng họ, ngành Mông nhất định (ngoài việc tổ chức hàng năm): chủ yếu là ngành Mông trắng còn được gọi là Thi su (nghĩa là cúng cho người Mông trong cùng dòng họ ở quy mô lớn vượt ra khỏi phạm vi bản, xã, huyện).

Lễ  cúng dòng họ được chia làm hai phần:

+ Phần đầu (Tu, Dù, Sầu...): Nghĩa là cầu, làm lễ cầu cúng thần linh về phù hộ cho con người khỏe mạnh, mùa màng tươi tốt, chăn nuôi phát triển.

+ Phần hai (Su): Nghĩa là nạn, là phần thầy cúng nhờ sức mạnh của thần linh thu hết những tai nạn, rủi ro, bệnh tật, khó khăn... làm phép để bảo vệ con người khỏi bệnh tật, rủi ro, khó khăn...

* Lễ cúng hàng năm: của người Mông trắng, so sánh với người Mông đen và Mông hoa

Trước ngày làm lễ, đại diện các hộ gia đình họp bàn thống nhất chọn 01 gia đình trong dòng họ để tổ chức lễ cúng. Gia đình được chọn phải có người chủ gia đình là người cao tuổi, trưởng dòng họ của bản, thuộc bậc trên có uy tín với người dân trong dòng họ, trong bản. Thường gia đình này được chọn làm lễ đến khi người chủ gia đình mất đi, người trưởng họ của bậc dưới sẽ thay. Chủ nhà có thể làm chủ lễ nếu được thần linh chấp nhận hoặc tổ chức lễ cúng chọn chủ lễ, tức thầy cúng bằng cách bói trứng gà xin thần linh, tổ tiên chấp nhận người được chọn. Tuỳ vào số hộ gia đình nhiều hay ít mà trưởng họ quyết định chọn số lượng thầy cúng (từ 1 đến 3 thầy cúng), trong đó có 1 thầy cúng chính. Chọn được thầy cúng, dòng họ cử đại diện đi mời, mang theo lễ vật đến xin phép tổ tiên nhà thầy cúng cho phép thầy đến cúng cho bản, xin mang theo đồ nghề của thầy về trước, đến ngày cúng sẽ cho người đến đón thầy. Khi đi, mỗi thầy cúng mang theo 2 bộ vật dụng sử dụng trong lễ cúng (1 để cúng tổ tiên, 1 để cúng thần linh): 2 bộ chũm chọe (chia nênh); 2 bộ chư nênh; 1 bộ chiêng và dùi gõ; 2 bộ sừng trâu bổ đôi; 2 mảnh vải đỏ, đen để thầy chùm đầu khi cúng..

Chủ nhà chuẩn bị các lễ vật cúng gồm: 01 con gà trống to để làm lễ; 01 hoặc 02 con lợn để làm cơm mời cả họ ăn; tiền mặt; 01 con gà trả công cho thầy cúng, thực chất là nhờ thầy cúng dâng lễ vật lên cho thần linh; tiền trả cho người mang đồ lễ đi chôn, tiền lễ vật dâng lên thần linh thông qua những người này; tiền âm phủ: dùng giấy cắt và gấp thành. Lễ vật có sự khác biệt giữa các ngành Mông:

+ Ngành Mông trắng: chuẩn bị 01 chiếc lọ đục bằng đá xít có nắp đậy (lọ này được dùng để đựng lễ vật như giấy màu, chỉ mầu... trong lễ cúng cho các gia đình và mang đi chôn sau khi lễ kết thúc).

+ Ngành Mông hoa và Mông đen: Thanh niên trong dòng họ vào rừng chặt một cây "Giăng" (một loại cây thuộc họ thân đốt, lá tựa lá cây dừa nhưng có gai ở mép, ruột cây xốp) về chôn ở sau nhà, phía sau vách có bàn thờ (xử cang).

Mỗi nam giới trong dòng họ khi tham gia lễ cúng phải mang theo 03 sợi chỉ màu vàng, xanh, đỏ (trước đây là sợi lanh), dài từ 20 - 40cm với quan niệm đây là phương tiện, mối liên hệ giữa người sống với thần linh; là sợi chỉ dẫn đường cho linh hồn người chết về với tổ tiên, cho linh hồn của tổ tiên về đầu thai lại với con cháu; 01 con gà trống hoặc tiền để ăn 3 bữa chính; mỗi gia đình người Mông Hoa và Mông Đen mang đến 03 bông lau, còn người Mông trắng dùng giấy màu cắt thành hình vuông nhỏ và hình nhân để cúng.

Chủ nhà làm một bàn thờ cho thầy cúng, cạnh bàn thờ tổ tiên. Hương được cắm trên ban thờ, ở bếp, hai cánh cửa, bếp phụ và cây cột ma nhà để thông báo cho các thần linh cai quản những nơi ấy biết về lễ cúng và hiển linh báo cho thầy cúng những vấn đề sắp xảy ra hoặc đã xảy ra đối với gia đình. Chủ nhà chuẩn bị 01 cái ghế gỗ dài để thầy cúng ngồi làm, tượng trưng cho con ngựa để thầy cưỡi đi tìm thần linh trong quá trình làm lễ.

Ngày đầu tiên của lễ cúng: ngày này không có lễ vật, chỉ có bộ đồ cúng của thầy cúng được bày lên bàn thờ. Hương phải thắp liên tục đến khi cúng xong. Khi cúng không được cho chó vào nhà vì vía của chó sẽ át vía thầy cúng, làm thầy không đủ sức khoẻ, có thể không tiếp xúc được với thần linh; cửa chính luôn được đóng kín để đề phòng ma dữ vào nhà, mọi người ra vào bằng cửa phụ, khi thầy đuổi ma mới được mở cửa chính.

Ngày thứ hai: Lễ chính

Trước lễ cúng, thầy cúng đi thăm tất cả các gia đình của dòng họ ở trong bản, xem xét gia cảnh của các gia đình để khi cúng thầy cầu khấn thần linh cho chính xác. Nghi lễ diễn ra ở bàn thờ thầy cúng, trên bàn thờ đặt bộ đồ cúng của thầy, dưới đất có 01 con gà trống buộc chân bằng 3 sợi chỉ màu vàng, xanh, đỏ (đây là con gà của chủ nhà), trước ban thờ, sau lưng thầy đặt các mâm tiền âm phủ và hình nhân.

Nghi lễ gồm 3 phần: cúng chung, cúng riêng cho từng gia đình và cúng tiễn thần linh trở về.

Cúng chung: Trước khi cúng, gia đình để 1 con lợn ở giữa nhà, thắp hương, thầy cúng khấn ở bàn thờ, sau đó, quay ra giữa nhà, hướng về phía con lợn khấn thần linh, dùng hai nửa sừng trâu gieo xuống nền nhà xin âm dương, mời thần linh về nhận lễ vật. Khi thầy cúng xin được âm dương, người ta đưa con lợn ra ngoài để chọc tiết, lấy một vài hình nhân bằng giấy trắng nhúng tiết lợn mang vào để dưới bàn thờ. Những hình nhân này là đại diện cho những thành viên của chủ nhà tổ chức lễ. Sau khi chọc tiết lợn, người ta cắt tiết từng con gà của các gia đình trước bàn thờ tổ tiên trong khi thầy cúng khấn xin các thần linh nhận lễ vật. Tiết của mỗi con gà được dùng để nhúng một hình nhân bằng giấy màu trắng, đại diện cho các gia đình trong dòng họ, rồi đặt dưới bàn thờ. Thần linh nhận lễ vật xong, lợn, gà sẽ được chế biến để mời thầy cúng và các gia đình ăn khi lễ cúng kết thúc, chỉ giữ lại con gà của chủ nhà để sống, nhốt dưới bàn thờ (con gà này được quan niệm là sẽ chở hết những rủi ro, bệnh tật đi).

Nam giới trong dòng họ tập trung giữa nhà, trước bàn thờ nơi thầy cúng ngồi hành lễ. Thầy cúng đứng trước bàn thờ vừa cúng, vừa đốt tiền giấy, để mời thần linh về. Thầy vừa khấn, vừa cầm một cuộn chỉ, thả một đầu dây, đi vòng quanh những người trong dòng họ 5 - 6 vòng, tạo thành hàng rào bảo vệ con cháu trong dòng họ. Tiếp đến, thầy xin âm dương rồi đặt lên vai mỗi người 4 - 5 mảnh giấy, thầy cúng cầm con gà trống đi vòng quanh con cháu, vừa đánh chiêng, vừa khấn, lấy cánh gà quạt cho những mảnh giấy trên vai mọi người rơi xuống đất. Thầy cúng đi 1 vòng ngược, 1 vòng xuôi, khi quạt hết giấy trên vai mọi người xuống thì dùng dao cắt đứt dây chỉ vòng quanh mọi người. Thầy cúng cầm bát nước trắng đi vòng quanh mọi người vừa khấn vừa ngậm nước phun vào họ cho đến khi hết bát nước. Thầy cúng tiếp tục đi vòng quanh và cầu xin thần linh che chở, phù hộ cho các thành viên trong dòng họ.

Cúng riêng cho từng gia đình: Cúng chung cho dòng họ xong, thầy cúng riêng cho từng gia đình để giải hạn và cầu may mắn. Lọ đá được đặt giữa nhà, các mảnh giấy màu được gom cho vào lọ. Giữa nhà rải hình nhân, sợi chỉ màu của các gia đình mang đến. Dòng họ chọn 2 người đi chôn lọ đá.

Hai thầy cúng, mỗi thầy làm lễ cho từng gia đình. Hai người trong dòng họ được cử ra để phụ giúp hai thầy cúng. Khi hai thầy cúng gặp được thần linh, thầy sẽ truyền thông điệp để báo cho người giúp việc thứ 3, đang ngồi ở giữa nhà để thực hiện. Sau khi cúng xong cho gia đình nào, người phụ giúp lại nhặt chỉ màu và hình nhân của gia đình đó đã để sẵn trên nền nhà cho vào lọ đá. Cúng xong cho các gia đình, con gà trống đỏ được đưa ra, buộc ở giữa nhà, cạnh chiếc lọ đá cho thần linh chứng kiến. Cửa chính được mở ra, thầy cúng nhảy trên ghế, quăng mạnh nhạc cụ trên tay ra cửa, khi nào nhạc cụ đó được quăng qua cửa thì coi như đã đuổi được ma dữ, những điều rủi ro, bệnh tật. Cửa chính đóng lại và lễ cúng cho từng gia đình kết thúc.

Hai người mang chiếc lọ đá đựng toàn bộ giấy mầu, chỉ mầu của các thành viên trong dòng họ, con gà trống đỏ đi chôn. Họ đi về hướng Tây - hướng mặt trời lặn, cũng là hướng xui xẻo để chôn, xua đi những điềm xấu của gia đình, dòng họ và dân bản. Địa điểm chôn chiếc lọ đá phải ở ngoài phạm vi bản, ở chỗ có nước. Chôn xong lọ đá, 2 người kê bếp để mổ gà, luộc gà ngay trên hố chôn lọ đá. Khi đi chôn lọ đá, người ta còn mang theo một bát cơm to và một chai rượu. Ngoài hai người được nhờ đi chôn, còn có nhiều trẻ em đi theo, hoặc có thể gọi thêm người trong dòng họ đến uống rượu, ăn thịt gà. Khi nào ăn hết thịt gà, cơm, rượu mang theo mới được về.

Cúng tiễn các thần linh về trời: Thầy cúng tiếp tục lễ cúng tiễn đưa thần linh về trời. Sau đó, các gia đình tổ chức bữa cơm thân mật.

Lễ cúng của ngành Mông hoa và Mông đen cơ bản giống như người Mông trắng, tuy nhiên, có một số khác biệt như: bắt đầu buổi lễ, trưởng họ tập hợp các thành viên nam trong dòng họ đứng tập trung thành một khối, thầy cúng vai vác cây “Giăng” có treo bó lau; miệng khấn, tay cầm 1 bầu rượu và cuộn chỉ chín màu khác nhau cuốn quanh khối người theo hướng ngược chiều kim đồng hồ cầu xin ma núi, ma rừng, sông suối… phù hộ cho cả dòng họ trồng trọt, chăn nuôi phát triển; trẻ con, người già luôn khỏe mạnh, giống nòi phát triển đông đúc. Khi đi đủ 9 vòng, thầy cúng đứng lại và cắt vòng chỉ đã cuốn, dùng các sợi chỉ đó quấn quanh cuống bó lau. Cây “Giăng” được thầy cúng đặt xuống chôn tại cửa nhà và cầm con dao nhọn chặt đứt toàn bộ phần ngọn, 1 người khác họ cầm chiếc nỏ bắn mũi tên lên trời theo hướng mặt trời mọc với ý nghĩa đuổi hết mọi điều không may mắn của năm cũ.

Tiếp theo, thầy cúng cùng người phụ lễ quay về cửa chính ngôi nhà theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, thầy cúng cầm dao, người phụ lễ giơ nỏ lên chụm với mũi dao tạo thành một chiếc cổng. Lúc này, cây “Giăng” đã được nhổ lên đặt dưới cổng. Mọi thành viên trong dòng họ đi từ nơi làm lễ về phía cửa chính theo hướng ngược chiều kim đồng hồ và từng người đi qua cổng đó - kết thúc lễ cúng dòng họ. Cây “Giăng” được thanh niên trong họ mang đi vứt xuống vực sâu, khe núi ở hướng mặt trời lặn.

Một số tục lệ kiêng kỵ sau khi làm Lễ cúng dòng họ:

 03 ngày sau khi tổ chức lễ cúng dòng họ, những người tham gia thực hiện lễ phải kiêng không làm những việc nặng hoặc sử dụng các loại công cụ nặng; không được dùng dao phát nương; không được đi cuốc đất; không được dùng búa, rìu, cưa để chặt cây để tránh tai nạn, mệt mỏi, ốm đau và nhất là tránh đổ máu. Nếu không kiêng kỵ mà để xẩy ra những việc trên thì cả năm sẽ không may mắn.

Đối với người Mông hoa, gia đình tổ chức lễ cúng dòng họ phải làm Lễ tạ ơn vào năm sau ở nhà chủ lễ mới với sự tham gia của tất cả các thành viên nam trong dòng họ.

* Lễ cúng 3 - 5 năm/lần: Lễ thi su vào ngày 13 hoặc ngày 23 tháng Ba Âm lịch

Lễ cúng này chủ yếu của các dòng họ người Mông trắng, tổ chức tại gia đình trưởng họ có người cao tuổi nhất, gồm toàn bộ nam giới trong dòng họ cư trú tại các bản trong xã, khác xã, cùng thờ chung một ông Tổ.

Việc chọn thầy cúng, địa điểm làm lễ cũng như công tác chuẩn bị được thực hiện như lễ cúng hàng năm. Thầy cúng không có tuổi lẻ (như 3, 7, 9), có sức khỏe, gia đình không vận hạn, tang ma, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm.

Tương tự như lễ cúng hàng năm, chủ nhà cũng chuẩn bị các lễ vật cùng với sự đóng góp của các thành viên để làm lễ. Tuy vậy, ở đây, ngoài 3 sợi lanh màu xanh, đỏ, vàng, mỗi nam giới còn chuẩn bị cho mình 1 con dao, 1 cái kiếm, 1 khẩu súng bằng gỗ mềm (người Mông gọi là gỗ ma - ca thinh) được kết thành dây bằng thân cây cỏ gianh hoặc sợi vải đỏ tượng trưng cho vũ khí để bảo vệ gia đình, dòng tộc và dùng săn bắn kiếm sống. Dòng họ có thêm con dê để sau nghi lễ chở đồ lễ đi chôn.

Nghi lễ diễn ra cũng gồm các phần như nghi lễ hàng năm, có thể khác một vài chi tiết vì đây là lễ cúng lớn, cho nhiều gia đình ở nhiều bản, huyện khác nhau.

Lễ cúng dòng họ vẫn được duy trì trong cộng đồng người Mông ở tỉnh Sơn La. Lễ cúng dòng họ là một trong những nghi lễ độc đáo và được lưu truyền từ nhiều đời nay trong cộng đồng người Mông. Đây là cơ hội gặp gỡ, giao lưu, thể hiện sự gắn kết, giúp đỡ lẫn nhau của cả dòng họ, thúc đẩy, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của cộng đồng làng, bản, xã. Lễ cúng thể hiện quan niệm của người Mông về thế giới tâm linh, tín ngưỡng đa thần giáo và thể hiện quan niệm về gia đình, dòng họ và cộng đồng làng bản cũng như cố kết cộng đồng của người Mông ở Sơn La. Duy trì lễ cúng dòng họ trong cộng đồng là góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng, lưu giữ ngôn ngữ truyền thống của tộc người, bảo vệ và phát huy các tri thức bản địa.

Với giá trị đặc biệt, Lễ cúng dòng họ của người Mông được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (tại Quyết định số 4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21/11/2016).

Dương Anh (Theo Hồ sơ tư liệu, Cục Di sản văn hóa)


Sự kiện qua ảnh

59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59

Tìm kiếm

Liên kết website