Ngày 17 tháng 7 năm 2026
Liên kết website

Đình Đạm Xuyên, Thành phố Hà Nội

Đình Đạm Xuyên (xã Mê Linh, Thành phố Hà Nội) được Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (tại Quyết định số 15/2003/QĐ-BVHTT ngày 14/4/2003), là nơi thờ phụng ba vị: Cao Bi Hùng Thánh Đại vương, Dương Uy Phấn Vũ Đại vương và Thủy Tinh Thần nữ công chúa. Theo thần tích và truyền thuyết dân gian lưu giữ tại địa phương, các vị Thần này đã có công giúp vua Hùng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, đồng thời, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng cuộc sống thanh bình cho nhân dân.

Đình Đạm Xuyên là công trình kiến trúc thời Nguyễn, được dựng trên nền cao hơn mặt sân khoảng 0 m. Mái đình lợp ngói mũi hài, các góc mái có đầu đao cong. Hai bên hồi và phía sau được xây bằng gạch vuông cổ. Mặt trước bố trí hệ thống cửa gỗ kiểu bức bàn, vừa thuận tiện sử dụng, vừa tạo sự thông thoáng và chống ẩm cho công trình.

Mặt bằng kiến trúc của đình gồm ba tòa nối tiếp nhau tạo thành hình chữ công, bao gồm Đại đình, ống muống và Hậu cung, với tổng diện tích khoảng 219,2m².

Đại đình gồm 05 gian, có chiều dài 17m và rộng 8,56m. Bộ mái được đỡ bằng bốn bộ vì kèo theo kiểu "chồng rường giá chiêng", kết hợp hệ thống cột gỗ chắc khỏe. Công trình có bốn hàng chân cột với tổng cộng 24 cột, gồm 10 cột cái và 14 cột quân. Cột cái cao 4,04m, chu vi 1,22m; cột quân cao 2,90m, chu vi 0,80m.

Hậu cung gồm 03 gian, dài 10,96m, rộng 4,40m. Toàn bộ hệ thống kết cấu gỗ được liên kết bởi 16 cột và 04 bộ vì kèo theo kiểu chồng rường, tạo nên một không gian thờ tự trang nghiêm và vững chắc.

Nối giữa Đại đình và Hậu cung là tòa ống muống 02 gian, dài 6,06m, rộng 4,20m. Kết cấu mái theo kiểu chồng diêm hai tầng, khoảng không giữa 02 mái được bưng ván. Gian thứ hai của ống muống và gian giữa Hậu cung được nâng cao khoảng 02m để làm khám thờ thần.

Theo lời kể của nhân dân địa phương, trước đây cư dân hai làng Đạm Xuyên và Tiền Châu từng chung một ngôi đình để thờ Thần. Sau khi dân cư phát triển, nhân dân Đạm Xuyên đã dựng ngôi đình riêng và rước Thần hiệu cùng một số cổ vật về thờ phụng. Dòng chữ Hán khắc trên câu đầu đại đình ghi rõ thời điểm dựng thượng lương là ngày 18 tháng 11 năm Bính Thìn, niên hiệu Khải Định nguyên niên (1916).

Bốn kẻ phía trước đại đình đều được chạm nổi với các đề tài rồng, ly, mây và lá. Hai kẻ gian giữa chạm hình rồng cách điệu, thân rồng được chạm nhành lá mềm mại. Hai kẻ gian bên lại chạm hình ly cách điệu, kết hợp các mảng lá và vân mây, tạo nên bố cục hài hòa.

Đặc biệt, 08 đầu dư của đình được chạm lộng công phu thành hình đầu rồng chầu nhau. Các đầu rồng có khuôn mặt dữ tợn, miệng há ngậm ngọc, răng lớn, bờm dài nhiều lớp và râu xoắn mềm mại, thể hiện kỹ thuật điêu khắc của nghệ nhân xưa.

Hệ thống 14 bức cốn nách và ván nong tập trung chủ yếu tại Đại đình và phía trước Hậu cung là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao. Nổi bật trong số đó là các bức chạm rồng, phượng, rùa, long mã, sư tử hí cầu, hoa sen, cá chép và các loại hoa lá, vân mây. Hình rồng thường được thể hiện với thân uốn khúc, chân bám mây, đầu dữ tợn nhưng sinh động. Phượng được tạo hình thanh thoát với thân nhỏ, cánh lớn xòe rộng. Long mã xuất hiện trong tư thế phi nước đại, mang ý nghĩa cát tường. Các bức chạm mai điểu tùng lộc, hổ dưới gốc mai hay cảnh sen, rùa, ếch tạo nên một thế giới nghệ thuật giàu sức sống. Toàn bộ hệ thống chạm khắc của đình được thực hiện chủ yếu bằng kỹ thuật chạm nổi và khắc chìm, ít sử dụng sơn thếp nhưng được phối màu hài hòa, thể hiện trình độ thẩm mỹ và kỹ thuật điêu luyện của nghệ nhân dân gian đầu thế kỷ XX.

Đình Đạm Xuyên hiện còn bảo lưu nhiều hiện vật có giá trị. Trong số đó có hai cỗ kiệu bát cống, gồm một cỗ thời Lê và một cỗ thời Nguyễn, 03 cỗ ngai thờ thời Nguyễn, được trang trí hình rồng, phượng, ly và các họa tiết truyền thống với kỹ thuật chạm khắc tinh tế. Ngoài ra còn có nhiều hiện vật gỗ khác như hoành phi, mâm bồng, hòm đựng sắc, đài rượu, lọ hoa.

Đặc biệt, đình hiện còn một bia đá lập năm Tự Đức thứ 23 (1870), được xem như một "cuốn ngọc phả bằng đá", ghi chép đầy đủ công trạng và lịch sử hành trạng của các vị Thần được thờ tại đình.

Bên cạnh đó, di tích còn lưu giữ một bản thần tích viết trên giấy sắc và tám đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam, gồm các niên hiệu Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân và Khải Định. Đây là những tư liệu quý phục vụ nghiên cứu lịch sử, tín ngưỡng và văn hóa truyền thống địa phương./.

Tuyết Chinh

Theo hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa

 

Liên kết website