Đền tháp Chăm Pô Dam
Đền tháp Chăm Pô Dam tọa lạc dưới chân núi đá có tên gọi là núi ông Xiêm (hay còn gọi là núi Ngài) cao 600m, thuộc địa phận xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Liên Hương, tỉnh Lâm Đồng).
Theo một phần biên niên sử của dân tộc Chăm thì Pô Dam (Pô Ka thít) người Việt gọi là Trà Duyệt nguyên là em ruột của công chúa Pô Shanư là con của vua Chăm PôPara, vị tướng kế thừa của chế Bồng Nga. Pô Dam sinh năm Thìn (?) ngày 3 thứ 7 tháng tư Chăm lịch (tháng 7 Âm lịch) Pô Dam lên làm vua năm Bính dần 1445 và mất năm Nhâm thìn 1472 trị vì được 27 năm và đóng tại Nha Trang (Khánh Hòa).
Công lao lớn nhất của Pô Dam để lại cho hậu thế hệ thống thủy lợi trên diện tích rộng lớn mà đối với vùng đất khô cằn này, góp phần quan trọng để sản xuất nông nghiệp duy trì và phát triển sự sống. Sử sách còn ghi chép lại những thời gian cụ thể dưới sự điều hành của Pô Dam về quá trình xây dựng những hệ thống thủy lợi ở nhiều vùng khác nhau. Hiện nay những hệ thống mương, đập đó còn gần như nguyên vẹn và một số vẫn còn sử dụng và phát huy hiệu quả.
Người Chăm đã bằng công sức và tài lực của mình xây dựng đền tháp để thờ ông và những người thân cận của ông với sự biết ơn và niềm kính trọng. Những nghi thức lễ hội vẫn được tiến hành đều đặn cũng như các phong tục được truyền lại từ thế hệ này đến thế hệ khác. Các vua Triều Nguyễn đã ban tặng cho Pô Dam 8 sắc phong: Sắc vua Minh Mạng năm thứ năm Giáp Thân (1824) tháng 2 ngày 11; Sắc vua Thiệu Trị năm thứ ba Quí Mão (1843) tháng 8 ngày 13; Sắc vua Thiệu Trị năm thứ ba Quí Mão (1843) tháng 9 ngày 21; Sắc vua Tự Đức năm thứ tám Ất Mão (1855) tháng 9; Sắc vua Tự Đức năm thứ ba Canh Thìn (1880) tháng 11 ngày 24; Sắc vua Duy Tân năm thứ ba Canh Tuất (1910) tháng 2 ngày 8; Sắc vua Đồng Khánh năm thứ hai Đinh Hợi (1887) tháng 7 ngày 1; Sắc vua Khải Định năm thứ chín Ất Sửu (1925) tháng ? ngày 25.
Nhóm đền tháp Chăm Pô Dam là di tích kiến trúc tôn giáo xuất phát từ việc thờ các vị Thần của Ấn độ và người Chăm theo đạo Bàlamôn. Trong các tháp Pô Dam thờ ngẫu tượng Lin ga - Yôni và các tháp khác lại thờ nhiều bia cút tượng trưng cho PôDam và thân nhân trong Hoàng tộc. Các thành phần kiến trúc trên thân tháp cũng thể hiện các yếu tố tôn giáo của đạo Bà Lamôn. Nội dung thờ cúng và các nghi lễ diễn ra ở tháp như lễ hội Katê, lễ cầu mưa, lễ cúng PôDam (tháng 4 Chăm lịch) v.v.... đều hoàn toàn mang tính tôn giáo.
Di tích Pô Dam được người Chăm chọn xây dựng lưng chừng núi ông Xiêm. Đây là ngọn núi đá dài và cao bắt nguồn từ dãy Trường Sơn xuống. Xây dựng nhóm đền tháp ở đây vừa có nền móng đá chắc chắn vừa tạo nên sự hùng vĩ cho di tích. Điều quan trọng hơn trong ý tưởng về kiến trúc và nội dung thờ phụng theo quan niệm của người Chăm các ngọn núi là nơi cư ngụ của các vị Thần linh, xây đền thờ ở đây phù hợp với ý tưởng đó. Điều này cũng giải thích vì sao di tích lại xây dựng quá xa làng mạc, đường sá khó khăn, phương tiện vận chuyển lại càng khó hơn.
Nhóm đền tháp Pô Dam có tất cả 6 ngôi tháp, chia thành hai nhóm (nhóm Bắc và nhóm Nam) theo hai trục song song hướng về phía Nam chếch Tây 15°30'. Từ lâu các đền tháp này đã được các nhà Chăm pa học, người Pháp xác định niên đại vào nửa đầu thế kỷ IX, muộn hơn các đền tháp ở nhóm Hòa Lai (Phan Rang). Tuy nhiên căn cứ vào kiểu dáng kiến trúc và phần trang trí điêu khắc trên thân các tháp và những thành phần về khảo cổ khác cho thấy Pô Dam thuộc niên đại cuối thế kỷ VIII sớm hơn cả ở Hòa Lai. Cho dù sự sắp xếp thứ tự, niên đại dựa trên những đặc trưng về kiến trúc, điêu khắc, các trụ áp tường, vòm cuốn thì trong phong cách nghệ thuật kiến trúc Hòa Lai cũng chỉ có các đền tháp: Hòa Lai (Phan Rang), Pôshanư (Phan Thiết) và các tháp F3, A2, A1, A13 (Thánh địa Mỹ Sơn Quảng Nam - Đà Nẵng) và Pô Dam đã hình thành nên một phong cách nghệ thuật riêng có niên đại nửa cuối thế kỷ VIII và đầu thế kỷ IX. Dựa trên những căn cứ có cơ sở khoa học nhà nghiên cứu lịch sử, kiến trúc người Pháp Philippe Stern đã đặt tên là phong cách nghệ thuật Hòa Lai. Điều đó cũng đủ thấy vai trò quan trọng và vị trí của nhóm đền tháp Pô Dam trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa Chăm. Tuy nhiên trong 6 tháp ở Pô Dam không phải đều có niên đại ở nửa cuối thế kỷ VIII cả mà chỉ có 3 ngôi tháp trong nhóm thứ nhất (nhóm tháp Bắc) tức là tháp chính, tháp Tây và tháp Bắc (tháp A, tháp E và tháp F) ở 3 ngôi tháp này mang đặc trưng của phong cách nghệ thuật Hòa Lai từ trang trí nghệ thuật ở phần ngoại thất đến những đặc điểm ở phần nội thất.
Cuối thế kỷ XIX đầu XX, các nhà nghiên cứu người Pháp mới xác định niên đại của nó là nửa đầu thế kỷ IX. Tuy nhiên trong mấy chục năm gần đây các nhà Chăm pa học đã kết hợp nghiên cứu trên các lĩnh vực khảo cổ, lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật đã có đầy đủ cơ sở khoa học. Dựa trên những cơ sở kiến trúc trên thân tháp, chủ yếu là các thành phần trang trí nghệ thuật và điêu khắc ở PôDam đã khẳng định các đền tháp ở đây (Ba tháp trong nhóm Bắc A, E,F) thuộc niên đại cuối thế kỷ VIII, sớm hơn cả ở Hòa lai (Phan Rang). Như vậy, trong lịch sử kiến trúc Chăm, phong cách Hòa Lai đã mở ra một thời kỳ mới với những vẻ đẹp uy nghi, cân đối, được tạo nên bởi những nhịp điệu sinh động của trụ áp tường, vòm cuốn. Những mô típ trang trí điêu khắc khá phong phú và dày đặc, mang vẻ đẹp hùng mạnh nhưng vẫn giữ được sự cân bằng giữa các chiều trong di tích (đền tháp). Giữa các tháp với nhau trong nhóm cũng có sự cân đối, hài hòa về sự thể hiện vị trí, địa điểm, tính chất chức năng của từng đền tháp trong tổng thể di tích.
Di tích Pô Dam mặc dầu xây dựng trong núi, xa các làng mạc của người Chăm sinh sống, nhưng từ xưa đến nay luôn có người Chăm lui tới viếng thăm và thờ cúng, tế lễ. Xét trên mặt tổng thể, nhóm đền tháp Chăm Pô Dam so với những đền tháp khác ở Bình Thuận (trừ nhóm Pôshanư) đến nay vẫn được người Chăm thực hiện các nghi thức lễ hội đều đặn mà tổ tiên ông cha họ truyền lại cho hậu thế. Ở đây, với thời gian hơn 1.200 năm những thành phần di tích nguyên gốc đã bị sứt mẻ và rơi rụng dần theo năm tháng. Phần còn lại vẫn giữ được những giá trị, đặc trưng, đường nét nguyên gốc của ngày khởi tạo. Hơn thế nữa, các đền tháp Pô Dam, ngoài việc đại diện cho một phong cách nghệ thuật trong lịch sử kiến trúc Chăm, nó còn đại diện cho cả một nền văn hóa có trình độ phát triển đã từng làm rạng rỡ cho Văn minh Chăm pa trong nhiều thế kỷ trước. Ngày nay, nó là bằng chứng vật chất minh chứng rất rõ ràng về một phần của lịch sử kiến trúc Chăm. Đây cũng là điểm để nghiên cứu, so sánh đối chiếu giữa phong cách nghệ thuật này với phong cách kiến trúc nghệ thuật khác.
Với những giá trị tiêu biểu trên, Nhóm đền tháp Chăm Pô Dam đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 1460-QĐ/VH ngày 28 tháng 6 năm 1996./.
Đình Lâm
(Theo Hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa)






.png)
.jpg)