Ngày 23 tháng 2 năm 2026
Liên kết website

Đền Thiên Kỳ, tỉnh Hải Dương

         Đền Thiên Kỳ (hay còn gọi là Đền Kỳ), được xây dựng ở sườn núi Thiên Kỳ, quay mặt về hướng bắc. Trước cửa đền là cánh đồng lúa chạy dài tới ngã 3 sông, nơi gặp nhau giữa sông Kinh Thày và sông Đá Vách.

Đền nằm ở địa phận thôn Kệ Sơn (nôm gọi là Cậy Sơn) thuộc xã Hoành Sơn, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay là phường Nhị Chiểu, Thành phố Hải Phòng). Đền thờ ông Nguyễn Đình Húc (nhân dân địa phương còn gọi tắt là Nguyễn Húc) một danh tướng thời Lê có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh.

          Theo tài liệu của Bảo tàng Hải Dương, Nguyễn Đình Húc sinh năm 1379 tại thôn Kệ Sơn (nay là Cậy Sơn, xã Hoành Sơn). Thuở nhỏ ông là người thông minh chính trực. Lớn lên, được gia đình cho ăn học, sẵn có tư chất thông minh, ông nhanh chóng trở thành người học rộng, tài cao, văn võ song toàn.

          Mùa đông năm 1406, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem 20 vạn quân Minh theo đường Lạng Sơn và Vân Nam cùng đánh Đại Việt. Quân đội nhà Hồ không ngăn được thế mạnh của giặc phải lần lượt rút lui, sau đó thất bại. Đất nước rơi vào ách đô hộ của nhà Minh. Tuy vậy, nhân dân ta khắp nơi không chịu khuất phục, liên tiếp cầm vũ khí đứng lên tổ chức kháng chiến. Nguyễn Đình Húc là một trong những người tổ chức nhân dân chống giặc, bảo vệ quê hương khi giặc Minh tràn tới.

          Theo lịch sử Đảng bộ xã Hoành Sơn, khi giặc Minh tiến vào Kệ Sơn, Nguyễn Đình Húc đã tập hợp lực lượng của 2 thôn Nghĩa Lộ và Kệ Sơn, dựa vào địa hình núi rừng hiểm trở, ông cho quân làm bẫy đá, diệt gọn toán giặc Minh xâm lược, tướng giặc là Trần Đăng Khoa bị chém đầu. Đây là trận Đồi Thông Năm nổi tiếng. Sau trận thắng này, Nguyễn Đình Húc đã mở rộng ảnh hưởng của mình ra các vùng xung quanh. Uy tín của ông vang rộng khắp vùng, làm kẻ thù khiếp sợ. Khi viết về các cuộc kháng chiến chống quân Minh trong thời kỳ đầu xâm lược. Sử nhà Minh phải thừa nhận : “Tại các Phủ Tân An (miền Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh), Kiến Bình (miền Nam Định, Ninh Bình, Lạng Giang (miền Hải Dương và một phần Hà Bắc). Các châu Đông Hồ (có lẽ là châu Đông Triều tức là miền Đông Triều, Quảng Ninh và miền Đông bắc Hải Dương, Tây Bắc Hải Phòng). Thái Nguyên và sông Sinh Quyết (đoạn sông chảy qua miền Nam Định), dân Nam không phục, họp nhau làm loạn. Hành động gọi là “họp nhau làm loạn” ở đây chính là những cuộc bạo động của nhân dân ta chống lại quân Minh nhưng bị ghi chép xuyên tạc dưới ngòi bút của kẻ xâm lược. (Trích khởi nghĩa Lam Sơn của Phan Huy Lê - Phan Đại Doãn. NXBKHXH 1977 - Trang 42).

          Đầu năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi hô hào nhân dân cùng nổi dậy giết giặc cứu nước. Nguyễn Đình Húc đã mang toàn bộ lực lượng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Được Lê Lợi phong chức Phó Tướng, chỉ huy một cánh quân lập nhiều chiến công ở miền Đông Bắc.

          Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, do có công lao to lớn, ông được triều đình phong thưởng. Sau đó được bổ nhiệm làm Tri phủ Bắc Ninh. Ông là vị quan thanh liêm, chính trực được nhân dân yêu mến, kính trọng. Về sau, khi triều đình nhà Lê có những mâu thuẫn nội bộ, khép tội một số người có công, ông cáo quan trở về quê cũ ở ẩn, vui cảnh núi rừng, làm thơ ngâm vịnh.

          Khi về quê, Nguyễn Đình Húc lấy tên tự là Di Tân, hiệu Cúc Trang, làm nhiều thơ ca ngợi cảnh đẹp quê hương, nói lên tâm sự của mình. Tập thơ Cựu đài của ông rất nổi tiếng và đã được trích đăng vào Hợp Tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XVII với những bài: Buổi sáng than phiền, Gió mưa mù mịt, Than cảnh gió mưa và Thương cảnh loạn ly....

          Đền Thiên Kỳ được xây dựng sau khi Nguyễn Đình Húc mất một thời gian. Vị trí xây dựng đền đặt ở sườn phía Bắc của ngọn núi. Trong khuôn viên của ngôi chùa cổ thời Trần. Tương truyền Nguyễn Đình Húc đã từng lấy đất chùa này làm đại bản doanh, tập hợp nhân dân khởi nghĩa. Dấu tích ngôi chùa cổ hiện còn phát hiện thấy một số gạch hoa lát nền thời Trần. Vào cuối thời Lê, đền được xây dựng khá lớn, tạo thành cụm di tích gồm có đền và chùa, theo xu hướng tiền Thần, hậu Phật. Đến thời Nguyễn, khu di tích cũng được trùng tu nhiều lần. Tuy vậy, trong kháng chiến chống Pháp, địch càn quét mạnh khu vực này và đã đốt phá một số hạng mục của công trình. Gần đây, nhờ chính sách đổi mới của Đảng, di tích từng bước được tu bổ khang trang.

          Đền Thiên kỳ hiện nay có kiến trúc kiểu chữ “Đinh” gồm có 5 gian Tiền tế và một gian Hậu cung. Đền quay về hướng bắc, nhìn ra ngã 3 sông. Con đường làng rải đá men theo sườn núi uốn lượn đưa ta đến cửa đền. Một đoạn đường trải bê tông dốc thoải dẫn đến các bậc đá lên đền. Bốn con sấu đá châu bên bậc đá có niên đại thời Lê như nhắc nhở du khách về thời khắc xây dựng ngôi đền. Sân đền to rộng, phía trước sân có cây đại cổ thụ, một bể cảnh bằng đá do thợ Kính Chủ làm, một cây trúc đài vươn cao có niên đại từ thời Minh Mệnh.

          Đây là một di tích lịch sử có giá trị, nơi thờ Nguyễn Đình Húc, người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh thế kỷ 15. Mặt khác, Nguyễn Đình Húc là một phó tướng của Lê Lợi, người bạn thân thiết của Nguyễn Trãi và có nhiều đồng cảm với Nguyễn Trãi. Ông còn là một nhà thơ có mặt trong Tuyển tập thơ ca Việt Nam. Thơ ông đã phần nào phản ánh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 15, giúp cho các nhà nghiên cứu hiểu thêm về tình hình đất nước, sinh hoạt xã hội thời đó. Bản thân ngôi đền là biểu hiện sự tôn vinh người có công với nước, với dân, giáo dục các thế hệ về truyền thống đánh giặc giữ nước, là một điểm nghiên cứu, một điểm tham quan, du lịch cho khách trong nước và quốc tế.      

          Với những giá trị tiêu biểu trên, Đền Thiên Kỳ đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử quốc gia tại Quyết định số 20/2001/QĐ-BVHTT ngày 29 tháng 3 năm 2001./.

Đình Lâm

 (Theo hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa)

Liên kết website