Đình Đại Từ, tỉnh Hưng Yên
Đình Đại Từ nằm trên địa bàn thôn Đại Từ, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Theo Thần tích và truyền ngôn của nhân dân địa phương, đình Đại Từ được xây dựng trên nền ngôi nhà cũ của Tuy Lộc Đại vương Lưu Cơ khi Ông đóng quân tại trang Đại Từ nhằm bình định sứ quân Lưu Khuê (Lý Công Lãng) năm 968. Ông cũng ban đất cho nhân dân làng Đại Từ để canh tác và ban tiền cho nhân dân xây dựng miếu làm nơi thờ tự mình sau này.
Trong các giai đoạn lịch sử của dân tộc, đình Đại Từ từng là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của địa phương. Dưới thời Phong kiến, các cuộc họp quan trọng của làng đều diễn ra tại đình. Trong thời kỳ Kháng chiến chống Pháp, đình là địa điểm hoạt động, tập hợp lực lượng, rèn đúc vũ khí, luyện tập võ nghệ của lực lượng du kích địa phương và cán bộ Việt Minh. Bởi vậy, năm 1947, Thực dân Pháp đã càn quét và thiêu rụi hoàn toàn ngôi đình. Đến năm 1990, ngôi đình được chính quyền và nhân dân địa phương phục dựng trên nền móng của ngôi đình cũ. Ngày nay, đình được tu sửa khang trang làm nơi sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng cho nhân dân địa phương.
Theo thần tích và các tư liệu lịch sử, bản Thần phả “Đinh triều công thần Tuy Lộc đại vương ngọc phả lục” được sao chép lại từ cuốn Bách Thần phả lục vào năm 1887 (niên hiệu Đồng Khánh thứ 2), nguyên bản Phả lục đó do Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), sau đó quan Thừa khanh Nguyễn Hiền thừa sao lại năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) và lưu trong cuốn Bách thần phả lục của triều đình truyền qua các đời. Đình Đại Từ thờ Thái sư Lưu Cơ là bậc khai quốc công thần, có công giúp Đinh Bộ Lĩnh - Đinh Tiên Hoàng thống nhất 12 Sứ quân. Ông là người có đóng góp tích cực trong việc thống nhất đất nước, phò tá triều đình và ổn định xã hội. Lưu Cơ sinh ngày mùng 3 tháng Giêng năm Canh Tý (940) ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), cùng quê và là bạn đồng trang lứa của Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Trịnh Tú từ thuở cờ lau tập trận. Khi Đinh Bộ Lĩnh phất cờ tụ nghĩa ở động Hoa Lư, Lưu Cơ là một trong những vị tướng đã sát cánh cùng Đinh Bộ Lĩnh trong cuộc bình định 12 Sứ quân, thu giang sơn về một mối. Ông trực tiếp cầm quân cùng Chủ soái Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp sứ quân Lý Khuê (tức Lý Lãng Công) ở Siêu Loại (Bắc Ninh). Năm Mậu Thìn 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, định đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Sau khi lên ngôi, vua Đinh Tiên Hoàng đã phong Lưu Cơ làm Thái sư Đô hộ phủ. Thái sư Lưu Cơ là vị tướng có tài thao lược, vị quan đầu triều trông coi hình án, là nhà cai trị giỏi, nhất quán vì độc lập, tự chủ của đất nước. Ông chính là người giúp Đinh Tiên Hoàng đế coi sóc đất nước về mặt hình pháp của Nhà nước độc lập đầu tiên.
Từ năm 971, với tư cách là Thái sư Đô hộ phủ, Lưu Cơ được Đinh Tiên Hoàng giao cai quản thành Đại La và quản lý cả vùng Giao Châu cũ (tức Bắc Bộ ngày nay) - “Vựa lúa lớn nhất, cũng là kho người, kho của”, là phần đất trọng yếu và giàu có nhất của Đại Cồ Việt. Ông có công lớn trong việc cải tạo, xây dựng thành Đại La - tòa thành của An Nam Đô hộ phủ thời thuộc Đường - thành tòa thành của nước Đại Cồ Việt độc lập, tự chủ. Từ tòa thành hướng vọng về phía Bắc, Lưu Cơ cho sửa sang tòa thành hướng về phía Nam - nơi định đô của Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư.
Thái sư Lưu Cơ là vị tướng cai quản, tu tạo thành Đại La liên tục trong vòng 40 năm (971 - 1010) qua ba triều đại, chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc dời đô của Lý Công Uẩn từ Hoa Lư về Thăng Long thành công tốt đẹp vào năm 1010. Như vậy, chính ông là người đã “trao chìa khóa” thành Đại La cho triều đại mới.
Với những giá trị tiêu biểu trên, đình Đại Từ, tỉnh Hưng Yên đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 3537/QĐ-BVHTTDL ngày 20 tháng 11 năm 2024.
Khánh Chi
(Theo hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa)






.png)
.jpg)