Ngày 15 tháng 3 năm 2026
Liên kết website

Miếu Phương Lưu, Thành phố Hải Phòng

Miếu Phương Lưu thuộc xã Đông Hải, huyện An Hải, Thành phố Hải Phòng (nay là phường Đông Hải, Thành phố Hải Phòng) là nơi thờ vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền cùng người con cả là Ngô Xương Ngập - hai vị có công lớn trong trận Bạch Đằng lần thứ Nhất năm 938, đưa nước Việt ta thoát khỏi ách đô hộ của Phong kiến phương Bắc, sau một nghìn năm Bắc thuộc.

 

           Ngô Quyền nguời Đường Lâm, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là phường Đường Lâm, Thành phố Hà Nội). Ông tổ 4 đời của Ngô Quyền là Ngô Xuân - người đã từng chiêu mộ hàng trăm thủ hạ theo Triệu Quang Phục tiếp tục sự nghiệp của Lý Bí chống quân nhà Lương xâm lược nước ta (thế kỷ thứ VI).

          Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ (là bố vợ Ngô Quyền). Tháng 9 năm Mậu Tuất 938, Ngô Quyền cùng Dương Tam Kha (em vợ) cất binh từ Châu Ái (Thanh Hoá ngày nay) ra hỏi tội tên phản bội Kiều Công Tiễn, gấp rút hạ thành Đại La, tạo thế chủ động cho công việc chuẩn bị đón đánh quân xâm lược. “Ngô Quyền định kế rồi, bèn cho đóng cọc ở hai bên cửa biển” (theo Đại Việt Sử ký toàn thư, trang 197, bản dịch Đại học Tổng hợp Hà Nội). Ngô Quyền giao công việc này cho các tướng thân tín của mình là Ngô Xương Ngập, Dương Tam Kha và Đỗ Cảnh Thạc đảm nhiệm.

          Dương Tam Kha bố trí lực lượng ở Tả ngạn sông Bạch Đằng. Lực lượng ta chủ yếu là quân thạo nghề sông nước, mai phục sẵn ở các kênh rạch, bên sông, lợi dụng xuôi gió và thuận dòng nước, bất ngờ chặn đầu, tiến công thẳng vào đoàn chiến thuyên của địch. Tham gia lực lượng này còn có đội thuyền do Đào Nhuận chỉ huy, cùng phối hợp chiến đấu với Duơng Tam Kha.

          Bên Hữu ngạn sông Bạch Đằng (vùng bãi lầy cực Nam của huyện Thủy Nguyên và khu vực xung quanh sông Ruột Lợn) là nơi bố trí lực lượng của Đỗ Cảnh Thạc. Những đội dân binh của ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Hoàng Động, huyện Thủy Nguyên) đã tham gia chiến dấu dưới quyền chỉ huy của Đỗ Cảnh Thạc. Nhiệm vụ của cánh quân này phối hợp với cánh quân của Dương Tam Kha bên Tả ngạn, từ hai phía tấn công, chặn đứng và tiêu diệt đoàn chiến thuyền của Hoàng Thao ở ngay hạ cửa sông Bạch Đằng. Theo thần tích, Ngô Quyền ở Gia Viên trước khi quân Nam Hán kéo sang xâm lược, đã lập đồn trên sông Gia Viên (cửa sông Cấm để chặn giặc). Còn trong thời gian chuẩn bị chiến trường, Ngô Quyền và Bộ Chỉ huy đóng bản doanh tại thôn Lương Xâm (nay thuộc phường Hải An, Thành phố Hải Phòng).

 

          Miếu Phương Lưu tọa lạc trên một khu đất cao ráo, mặt chính của di tích quay hướng Tây. Nhìn từ xa, ta thấy nổi bật một kiến trúc cổ “mái đao - tầu góc”, với nhiều thức trang trí, đắp vẽ trên bờ nóc mái khá sinh động đạt giá trị mỹ thuật cổ như: “Rồng chầu – Phượng mớm", Nghê chầu, Kìm ngậm, bờ nóc mái; Thuỷ quái Ma Ka Ra, biểu tượng của cư dân nông nghiệp ... Cột và tường hồi di tích được xây cất bằng gạch vồ loại lớn , kết dính bằng vữa dùng với mật.

          Từ một kiến trúc nguyên gốc kiểu chữ Nhị (), năm Canh Thìn 1940, miếu Phương Lưu được dân làng tu sửa lại kiểu chữ Đinh () như hiện nay.

          Theo niên đại khắc rõ, trên phần kiến trúc gỗ, thì cung trong của di tích được trùng tu vào năm Canh Thìn 1940, cung ngoài và hiên được trùng tu năm Nhâm Thìn 1952, đều do các phường thợ nổi tiếng ở Cúc Bồ - Hải Dương đảm nhiệm. Phần mái tường của ngôi miếu được xây cất bằng những vật liệu cổ: ngói ta, gạch vồ cỡ 30 x 7cm, chất kết dính dùng vôi, mật, gạch lát nền dùng loại Bát Tràng cỡ 40 x 40cm.

          Phía trước di tích, bộ cửa thùng - khung khách đứng trên ngưỡng - thẳng với hàng cột cái chứ không vào ngay hàng cột hiên như nhiều di tích khác trong vùng. Thuật ngữ địa phương gọi là kỹ thuật “lộn nòng” tạo sự rộng rãi, đồng thời phô diễn kết cấu kỹ thuật mộc phần hiên của di tích (tương tự kết cấu cung trong của miếu Trung Hành, xã Đằng Lâm, huyện An Hải, Hải Phòng)

          Phần trang trí trên các bộ phận kiến trúc như vì, kèo, cột, kẻ, bảy đa số dùng lối bào trơn, đóng bén, tạo gờ chỉ, tạo dáng to khoẻ, không chi tiết rườm rà như nghệ thuật thời Nguyễn sau này. Từ 2 bức chạm khắc, trang trí phần hiên - cung bái dưòng cho thấy bước chuyển từ nghệ thuật thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVIII sang nghệ thuật thời Nguyễn đầu thế kỷ XIX, qua hình tượng rồng, phượng, lá lật, mây bông, tạo thêm giá trị trong chức năng tín ngưỡng thờ thành hoàng của làng xã.

          Đây là một trong số rất ít công trình kiến trúc cổ được bảo vệ, tôn thờ anh hùng dân tộc Ngô Quyền cùng con trai ông - Thái tử Ngô Xương Ngập ở thành phố Cảng, Hải Phòng.

          Di tích còn giữ được bộ sưu tập sắc phong cổ của các triều vua Lê Trung Hưng, Nguyễn ... hàm chứa những lời văn hay, mỹ tự đẹp cho các vị phúc thần được thờ tại di tích, góp phần làm rõ hơn niên đại tồn tại của ngôi cổ miếu.

          Với những giá trị tiêu biểu trên, miếu Phương Lưu đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia tại Quyết định số 22/2001/QĐ-BVHTTL ngày 29 tháng 3 năm 2001./

 

Đình Lâm

 (Theo hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa)

Liên kết website