Ngày 23 tháng 2 năm 2026
Liên kết website

Mộ Phạm Phú Thứ, tỉnh Quảng Nam

Phạm Phú Thứ sinh ngày 24 tháng Chạp năm Canh Thìn (tức ngày 27/01/1821) tại xã Đông Bàn, tổng Đa Hoà Thượng, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam (nay thuộc xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), là người bẩm tính thông minh học giỏi, đỗ đầu các khoa, làm quan đại thần của triều đình nhà Nguyễn dưới hai đời vua Thiệu Trị và Tự Đức.

Ông nổi tiếng là một danh nhân văn hoá có nhiều tư tưởng, kiến nghị nhằm giúp cho dân giàu nước mạnh, sớm thoát khỏi sự xâm lược của Thực dân Pháp và tiến kịp với thời đại thế giới văn minh. Ông cùng với Nguyễn Trường Tộ là những người có quan điểm canh tân đất nước trong những năm cuối thế kỷ XIX. Lúc nhỏ, ông có tên là Phạm Hào (hàm ý là hào kiệt), khi đi học ông lấy tên là Thứ (rộng lượng), đến khi ông đỗ đại khoa được vua đổi tên là Thứ, do đó có tên chữ là Giáo Chi. Phạm Phú Thứ lấy hiệu là Trúc Đường (nhà tre), biệt hiệu là Giá Viên (vườn mía) và hai biệt hiệu khác ít dùng là Thúc Minh (nhặt trong cái sáng) và Trúc Ẩn (ẩn trong tre trúc). Trong Giá Viên toàn tập, Phạm Phú Thứ hay gọi mình là Giang Thụ Sào, Nông Giang Điếu Đồ. Khi ông mất, vua Tự Đức ban cho ông tên thuỵ Văn Ý công (có văn học và hiền lành). Trong dòng canh tân thế kỉ XIX, Phạm Phú Thứ được coi là những người có tư tưởng vượt trội bởi tính toàn diện khả thi, đặc biệt là những tư tưởng canh tân về kinh tế và khoa học kỹ thuật.

 

Phạm Phú Thứ liên tiếp đạt được những thành tích rực rỡ trong các kỳ thi trong vòng 5 năm (từ năm 1839 đến năm 1843): năm 1840, ông đỗ đầu xứ sau đó đỗ tú tài; năm 1942, ông đỗ giải nguyên, đứng đầu bảng thi Hương trường thi Thừa Thiên; năm 1843, ông đỗ Hội nguyên nhưng vào thi Đình thì tuột xuống vị trí đầu bảng Đệ tam giáp Tiến sĩ, nhường bảng Đệ nhất giáp Tiến sĩ (thám hoa) cho Mai Anh Tuấn (1815 - 1851) và bảng Đệ nhị giáp Tiến sĩ cho Nguyễn Bá Nhạ (1822 - 1848). Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Phạm Phú Thứ bắt đầu con đường quan lộ của mình với chức hành tẩu (tập sự), hàm biên tu (chánh thất) ở Nội các vua Thiệu Trị. Năm sau (1845), ông được thăng chức Tri phủ Lạng Giang (thuộc tỉnh Bắc Ninh lúc bấy giờ). Năm Tự Đức thứ 2 (1849), ông được đề bạt về Viện tập hiền (viện văn học của vua) làm chức Khởi kinh chú. Năm 1850, ông dâng sớ can vua với những lời lẽ thiết tha và thẳng thắn nhưng vua không nghe và cách chức và đày ông ở trạm Thừa Nông (phía Nam thành phố Huế ngày nay). Sau gần 100 ngày bị đưa đi đày, đầu năm Tự Đức thứ 4 (1851), ông được tạm đưa về Hội Điển (nơi nghiên cứu luật lệ, quy chế Nhà nước) làm công việc biên tập. Năm 1852, ông được thăng chức Tri phủ Tư Nghĩa và có công lao to lớn góp phần vào việc cứu đói cho nhân dân Tư Nghĩa bị nghèo khổ. Năm 1855, ông được thăng chức Viên ngoại lang (Chánh ngũ) bộ Lễ (phụ trách việc văn hoá - giáo dục - ngoại giao), tiếp đến được thăng chức Án sát sứ (Chánh án) tỉnh Thanh Hoá (1856 - 1857), rồi sau đó làm Án sát sứ tỉnh Hà Nội (1857 - 1858). Năm 1858, Phạm Phú Thứ được chuyển về Nội các. Năm 1861, thăng chức Thị lang (Chánh Văn phòng, hàm Chánh Tam phẩm) Bộ Lại (Nội vụ). Đến đầu năm 1863, ông được thăng thự Tả tham tri Bộ Lại. Đến giữ năm 1863, Phạm Phú Thứ được cử làm Phó sứ cùng với Chánh sứ Phan Thanh Giản và Bồi sứ (sứ thứ ba) Nguỵ Khắc Đản sang Pháp và Tây Ban Nha. Năm 1865, ông được thăng chức Thượng thư Bộ Hộ (Bộ trưởng Bộ Kinh tế - Tài chính, hàm Chánh Nhị). Đây là nhiệm vụ hết sức khó khăn và nhiều chông gai do hoàn cảnh đất nước lúc này bị giặc ngoại xâm, nội loạn, thiên tai. Năm 1874, Phạm Phú Thứ được cử làm Tổng đốc (Tỉnh trưởng) Hải Yên (tỉnh Hải Dương và Quảng Ninh ngày nay) kiêm chức Tổng lý Thương chính đại thần - nhiệm vụ đứng mũi chịu sào cho triều đình nơi đầu sóng ngọn gió, ông đã không quản ngại khó khăn, đụng chạm giải quyết tạm ổn những vấn đề cơ bản và cấp bách tại nơi đây như: cứu đói cho hơn hai vạn dân là nạn nhân của vụ vỡ đê Văn Giang; lập nha Phòng khẩn, cấp tiền và tổ chức khai hoang vùng Đông Triều, Nam Sách; mở chợ gạo ở An Biên và Đồn Sơn; xử lý nghiêm minh gian thương người Hoa buôn lậu; tiễu trừ bọn cướp biển; xây lại phố xá và doanh trại tại tỉnh lỵ; đặt nha Thương chánh ở Ninh Hải để cùng với Lãnh sự Pháp mở cảng ngoại thương; khai rộng một đoạn sông ở phủ Bình Giang để thông thương vận tải đường thuỷ; mở một lớp học tiếng Pháp ở Ninh Hải... Chỉ trong một thời gian ngắn, những biện pháp hữu hiệu của ông đã làm cho kinh tế, ngoại thương và đời sống của nhân dân tỉnh Hải Yên thay đổi rõ rệt. Chính nhờ thành tích đó, năm 1876, Phạm Phú Thứ được thụ hàm Tổng đốc và năm 1878, ông được thăng hàm Hiệp biện Đại học sĩ (tòng Nhất phẩm)...

Phạm Phú Thứ là một vị quan thanh liêm, chính trực, có tư tưởng canh tân, từng giữ nhiều trọng trách quan trọng, khó khăn dưới triều vua Tự Đức, ông còn là một người có tư duy thời đại sâu sắc, có tài quan sát và nổi tiếng trong lĩnh vực đàm phán với ngôn ngữ sắc xảo. Những trước tác mà ông để lại là di sản văn thơ mang tính lịch sử, nghệ thuật cao với hàng trăm tư liệu chính trị, văn hoá phong phú và đa dạng, xác đáng và chân thực, chứa đựng tư tưởng cải cách, canh tân sâu sắc về mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, công nghệ, ngoại giao... các tác phẩm của Phạm Phú Thứ  phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hoá như: Giá viên toàn tập, gồm có 27 quyển: 1 quyển thủ, 13 quyển thơ và 13 quyển văn; Giá viên biệt lục (tức Tây hành nhật ký), gồm 03 quyển; về sử có Liệt Triều Thông Hệ Niên Phả Toản Yếu hoặc Bắc Quốc Lịch Triều Thông Hệ Niên Thứ, gồm 10 quyển được Phạm Phú Thứ viết lúc ở Nội các và Bản Triều Liệt Thánh Sự Lược Toát Yếu được ông viết lúc về quê dưỡng bệnh; về thơ, văn: có trong các sách: Chư danh gia thi, Dã sử, Danh nhân thi tập, Hoàng triều văn tập, Nam Giao nhạc chuông, Nguyễn Trường Tộ điều trần tập, Quốc triều thi thái, Quốc triều văn quyển, Tập mỹ thi văn, Tây phù thi thảo phụ chư danh gia thi, Thi thảo tạp biên, Trúc Đường thuật cổ thi tập…

Phạm Phú Thứ mất ngày 17 tháng Chạp năm Tân Tỵ, năm Tự Đức thứ 34 (tức ngày 05/02/1882) tại quê nhà. Với công lao cống hiến của Phạm Phú Thứ cho đất nước, khi ông qua đời, triều đình Tự Đức dã cho truy phục thực thụ hàm Nhất phẩm với tước Vinh Lộc Đại phu Trụ quốc Hiệp biện Đại học sĩ và dụ cho quan tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Với những giá trị tiêu biểu trên, Mộ Phạm Phú Thứ, tỉnh Quảng Nam đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia tại Quyết định số 610/QĐ-BVHTTDL ngày 12 tháng 3 năm 2024./.

 

                                        Khánh Chi

 (Theo hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa)

 

 

Liên kết website