Ngày 20 tháng 11 năm 2019
Liên kết website

Nghệ thuật Bài chòi ở Đà Nẵng

28-08-2018 21-30
Nghệ thuật Bài chòi ở Đà Nẵng được lưu giữ tập trung ở quận Cẩm Lệ, quận Sơn Trà, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, nhất là ở huyện Hòa Vang. Chơi - đánh – hô – hát là bốn tên gọi để diễn tả một loại hình nghệ thuật dân gian: Bài chòi. Hiện nay, trò chơi dân gian này rất phổ biến trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và không chỉ gói gọn trong những ngày đầu xuân mà còn kéo dài cả tháng Giêng trong các lễ hội truyền thống ở địa phương. Ai cũng có thể chơi Bài chòi, mỗi ván có từ một đến hai người chơi trở lên.

          Cách tổ chức hội Bài chòi ở mỗi địa phương có những điểm riêng, nhưng cũng có những điểm chung giống nhau, từ cách dựng chòi, con bài, anh Hiệu, trang phục, âm nhạc, hô con bài, làn điệu, cách chia bài, trao thưởng, cây nêu, nhà hội, treo cờ, trống chiêng, ngày tổ chức, ngày chấm dứt cuộc chơi…

a) Dựng chòi

Để tổ chức một hội Bài chòi, việc đầu tiên là dựng chòi. Tùy địa phương mà người dân dựng 9 hay 11 chòi theo "Bát quái đồ” hoặc "Thập Can" (ít dựng hơn), phổ biến nhất là 9 chòi. Hiện nay, việc dựng chòi để tổ chức hô/hát Bài chòi có nhiều cải biến, đơn giản hơn chỉ gồm một chòi chính dành cho anh Hiệu, còn lại là một vài chòi dành cho người chơi. Trước khi dựng chòi, người dân làm lễ cúng đất, xin thổ địa cho phép động thổ để dựng chòi. Chòi ở Đà Nẵng dựng bằng 4 đoạn tre, có tạo bậc thang trèo lên chòi. Chòi cao bằng nhau, độ 2 mét, có giường tre, lợp hai mái bằng rạ, hoặc tranh, ba bên che kín, phía trước để trống. Hai cột gần chỗ ngồi tạo mõ để gõ, thanh giường phía trước gắn một đoạn chuối nhỏ nằm ngang hoặc một cái ống nhỏ để cắm cờ tới cho các chòi con. Chòi Trung ương lớn gấp đôi chòi con, nằm ở giữa, cuối 2 hàng chòi con, đối diện với nhà Hội, đủ chỗ ngồi cho 5 đến 6 người. Nhà Hội làm ở đầu sân, rộng, có phản ngồi, bàn ghế để trà nước, rượu, bánh trái và quà thưởng… Khoảng đất trống giữa sân dựng 1 cây nêu bằng tre. Bên gốc cây nêu có cắm cọc, gắn ống đựng các con bài và anh Hiệu đứng cạnh đó để hô Bài chòi.

b) Bộ Bài chòi

 Thẻ bài làm bằng tre, đầu trên bè ra để dán lá bài, đầu dưới vót nhọn. Các chân bài nhuộm nửa xanh nửa đỏ, giống hệt nhau để không phân biệt được, gọi là bộ bài trùng. Bộ thẻ gồm 30 lá bài, được xếp thành 3 pho: Pho Văn, pho Vạn, pho Sách, mỗi pho 10 con bài:

- Pho Văn: gồm Tráng Hai (Nhì Bánh), Ba Bụng, Tứ Tượng, Ngũ Rún (Ngũ Rốn), Sáu Miểng (Sáu Ghe), Bảy Liễu (Bảy Dây), Tám Miểng, Chín Cu, Chín Gối, Ông Ầm.

- Pho Vạn: gồm Nhứt Trò (Học Trò), Nhì Bí, Tam Quăng, Tứ Móc (Tứ Gióng), Ngủ Trợt, Lục Trạng, Thất Vung, Bát Bồng, Cửu Chùa, Bạch Huê (Bạch Tuyết).

- Pho Sách: gồm Nhứt Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Sách, Ngủ Trưa (Ngủ Dụm), Sáu Hột, Bảy Thưa (Bảy Hột), Tám Dây, Cửu Điều, Tứ Cẳng.

Nếu chơi 9 chòi chỉ có 27 cặp, nếu chơi 11 chòi có 33 cặp. Vì vậy, người ta thêm vào 3 con bài xếp thành ba cặp yêu: Ông Ầm, Cửu Điều và Tứ Cẳng đều màu đỏ, khác với các con bài kia đều màu đen. Tuy nhiên, tên một số con bài đôi khi có những cách gọi khác nhau.

c) Cách thức hô/hát Bài chòi

  Để tổ chức một hội Bài chòi, người ta chuẩn bị hai ống đựng thẻ bài, ống bằng tre hoặc bằng gỗ, hình tròn. Mỗi ống gồm 30 lá bài trùng nhau từng đôi. Một ống làm bài tỳ và giao cho anh Hiệu để rút thẻ hô con bài. Còn ống kia để sau mỗi lần anh Hiệu hô con bài nào thì người lính phụ việc cầm con bài đó lên để cho người chơi nhìn rõ con bài vừa tới là gì, rồi treo lên trên cái giá làm bằng tre để ở giữa sân. Ngoài ra, còn chuẩn bị một bộ thẻ bài gồm 10 thẻ, trên mỗi thẻ có 3 quân bài, tương ứng với 30 quân bài trong bộ Bài chòi sử dụng để hô/hát. Khi các chòi đã có người chơi, mười thẻ bài này được chia (hoặc bán) cho người chơi, một người một thẻ, tương ứng với 3 quân bài.

Người điều khiển hội chơi Bài chòi là anh/chị Hiệu (người hô). Các chòi mua thẻ bài, anh Hiệu hô mở đầu cuộc chơi, hát giới thiệu về các con bài trong bộ bài chòi. Anh Hiệu xóc thẻ và bốc con bài, hát làn điệu bài chòi mang tên con bài đó, cuối lời hô/hát Hiệu xướng tên thẻ bài cho tất cả mọi người biết.

Mỗi con bài là một lời hô/hát. Anh/chị Hiệu hô đến khi chòi nào có đúng quân bài Hiệu đang hô thì người chơi gõ mõ hoặc xướng lên báo và nhận được một cây cờ đuôi nheo nhỏ. Người chơi ở chòi nào ăn đủ 3 con (được 3 cờ) như lời Hiệu hô ứng trong tấm thẻ mình được phát thì hô “tới” và gõ một hồi mõ kéo dài, lúc này trống tum, trống cán ở chòi trung tâm đánh vang lên, nghĩa là người ở chòi đó đã thắng thì chấm dứt một ván/hiệp bài và tiếp tục một ván/hiệp bài khác.

Ở những địa phương không có nghệ nhân hô/hát bài chòi thì họ tổ chức chơi bài chòi với hình thức đơn giản hơn: không có anh Hiệu mà chỉ có người hô (không hát). Người hô xóc thẻ rồi rút từng con bài. Mỗi lần rút bài người hô đọc (xướng) to tên con bài. Người nào có đúng quân bài đó thì xướng lên “ăn rồi” và được trao một cây cờ đuôi nheo nhỏ. Người chơi ăn đủ 3 con (được 3 cờ) thì hô “tới”...

Thông thường cuộc chơi từ 8 đến 10 hiệp/ván là hết một hội bài chòi. Điều đặc biệt, trong mỗi một hiệp/ván bài chòi không hát lặp lại lần thứ hai những con bài đã hô/hát ở ván trước. Nếu ở hiệp/ván sau thì cũng tên con bài đó nhưng hô/hát lời khác và chỉ lặp lại các từ Ới bạn mình ơi cộng với tên con bài sắp ra.

d)    Anh Hiệu

  Một điều hết sức đặc biệt trong mỗi hội chơi Bài chòi đó là vai trò của anh Hiệu - người điều khiển hội Bài chòi, được xem là linh hồn của cuộc chơi. Hội Bài chòi có sinh động, rôm rả, thu hút người chơi và người xem hay không phụ thuộc vào tài hô/hát của anh Hiệu. Trong mỗi hội Bài chòi ở Đà Nẵng, Hiệu thường là đôi nam nữ hát đối đáp, cộng thêm lối pha trò hài hước, tung hứng cùng nhau và có ứng tác đặc sắc, tăng thêm tính giao tiếp với người chơi khiến cho hội Bài chòi càng sôi nổi hơn.

Một anh/chị Hiệu giỏi phải là người hát hay, có tài ứng khẩu linh hoạt, có khả năng làm trò duyên dáng, có tính hài hước, nhanh nhẹn, thuộc hàng trăm bài thơ, bài vè, hàng ngàn câu ca dao; phải biết hát nam, hát khách những làn điệu dân ca đặc trưng của những vùng miền xứ Quảng.

đ) Tên gọi và hình vẽ trên lá bài

Tên con bài là những tên gọi nôm na, tinh nghịch, hài hước tiếng Nôm có, tiếng Hán có... mà khi đọc lên rất vui tai, ngộ nghĩnh, đôi lúc tưởng như tục tĩu, thô lỗ, nhưng vẫn rất tự nhiên: bảy giày, bảy sưa, ba gà, ba bụng, nọc đượng, năm rún, ông ầm, bạch tuyết (đôi nơi gọi là bạch huê, có khi còn gọi là con l…), tứ tượng, ngủ trưa… Có con bài gợi lên hình ảnh một anh nông dân chây lười, biếng nhác “Ngủ trưa, ngủ trượt”, có con lại gợi lên sự đanh đá điêu ngoa “Đỏ mỏ”, có con lại gợi lên hình ảnh gánh gồng của một đôi gióng nặng nợ “Tứ gióng”.

Các quân bài ở pho Văn sử dụng những hình vẽ gần gũi với lối hình học, có những miếng tròn như bánh xe, đồng tiền hay nửa đồng tiền. Quân bài thuộc pho Vạn thì đều vẽ mặt người. Các quân bài pho Sách lại vẽ những nút tròn nhỏ, giữa vòng tròn có những chấm đen, ngoài ra còn có những đường gạch ngang rất đều có thể hình dung như quấn tròn đều đặn bằng dây mây. Ba cặp bài yêu cũng có hình vẽ tương tự. Trên mỗi con bài không ghi tên, chỉ có hình vẽ làm ký hiệu riêng cho mỗi con bài.

e) Bài bản và các làn điệu Bài chòi

Làn điệu hô/hát Bài chòi dựa trên sáu làn điệu chính: Xuân nữ cổ, Xuân nữ mới, Cổ bản, Xàng xê cũ (lụy), Xàng xê mới (dựng), Hồ quảng (còn được gọi là hò quảng). Bài chòi xuân nữ: tha thiết trữ tình, thích hợp với lối tự sự giãi bày tâm trạng; Bài chòi xuân nam trong sáng khỏe khắn; Bài chòi xàng xê, buồn bã, bi thảm; Bài chòi Hồ quảng tươi tắn, phấn khởi.

Ở Đà Nẵng, Bài chòi còn tiếp thu những làn điệu khác: hò khoan, hát ru, vọng kim lang, vè quảng lý thương nhau, hò giã vôi, hoa chúc, các điệu lý như: lý hò hê, lý tình tang, lý vọng phu, lý vãi chài… Cộng với ảnh hưởng của lối hát lối nói tuồng mà hình thành nên những làn điệu bài chòi rất độc đáo. Bài chòi ở Đà Nẵng mang đậm tính dân gian và tích hợp được nhiều âm giai, âm hưởng của dân ca Quảng Nam, đặc biệt là lối vừa hô bài chòi, vừa hát.

Nghệ thuật diễn xướng cũng đóng một phần quan trọng làm nên thành công của một hội Bài chòi. Trong phần diễn xướng chủ yếu là xướng, bao gồm: nói lối, xuống hò và hát.

Nói lối: là hình thức mở đầu trong Bài chòi, nói có vần, có lối những bài thơ dân gian, hát tự do, không nhịp điệu, không tiết tấu. Mở đầu hội Bài chòi không phải lúc nào cũng nói lối, mà có thể có nhiều cách khác nhau: nói lối xuống hò vào hát, không xuống hò vào hát, không nói lối vào hát ngay, nói thường vào hát.

Xuống hò: sau nói lối là xuống hò, đóng vai trò lấy hơi, để ổn định điệu thức hoặc để “kết đoạn” sau một đoạn hát.

Hát (hô): hát Bài chòi từ lối chơi dần dần trở thành một hình thức diễn xướng dân ca, dùng thơ lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát, thơ mới… Hát trên nền ngũ cung hơi nam giọng oán, với các làn điệu cổ truyền Xuân nữ, Cổ bản, Xàng xê, Hồ quảng… những câu có thể ngắn, giản dị như những câu đố vui hoặc có thể dài mang tính chất tự sự, trữ tình…

g) Về thể thơ, kết cấu và ngôn ngữ

Bài bản của lời hô/hát Bài chòi đang thực hành ở Đà Nẵng là những bài thơ bốn chữ, năm chữ theo điệu vè và phổ biến nhất là thơ lục bát (6/8), lục bát biến thể, song thất lục bát.

Về kết cấu lời hô/hát Bài chòi thường được sáng tác theo một khuôn mẫu, đồng thời, có sự sáng tạo thêm trong từng hoàn cảnh của anh Hiệu. Bên cạnh đó lời ca bài chòi còn có kết cấu một vế đơn giản, và kết cấu hai vế theo dạng ca dao đố - giải.

Về ngôn ngữ, thổ âm địa phương được biểu hiện rõ nét trong lời hô/hát Bài chòi của anh Hiệu ở Đà Nẵng, đó là tiếng nói của người Quảng Nam. Ngôn ngữ trong lời hô/hát Bài chòi giàu tính hình tượng, mang tính tự sự và trữ tình cao, tạo sự liên tưởng cho người nghe để đoán định con bài sắp ra và hiểu được nội dung lời ca bài chòi biểu đạt nội dung gì.

h) Về tiết tấu và âm nhạc Bài chòi

Về tiết tấu, chỉ có nhịp đôi đều đặn hay nhịp ba bỏ một nhịp, nhưng cũng có thể biến tấu.

Âm nhạc Bài chòi là thành phần quan trọng tạo ra phong cách Bài chòi ở mỗi vùng miền. Nhìn chung, ở Đà Nẵng nói riêng và Quảng Nam nói chung về âm nhạc Bài chòi có hai hình thức là nhạc hát (Hô Thai/Hô Bài Thai) và dàn nhạc đệm cho hát.

 Về động tác sử dụng trong nghệ thuật hô/hát Bài chòi chủ yếu là những động tác giống như trong nghệ thuật hát tuồng, ngoài ra, còn có các điệu như múa sắc bùa, lục cúng, bát dạo…

i) Về nội dung lời hô/hát Bài chòi

Trong lời hô/hát của anh Hiệu, có thể bắt gặp được những lời tự sự về sinh hoạt hàng ngày, lao động sản xuất, ca ngợi tình làng nghĩa xóm, cách đối nhân xử thế, hay phê phán những thói hư tật xấu ở đời…

Có thể nói, hô hát Bài chòi đầu Xuân là một trong những nét văn hoá truyền thống dân gian rất độc đáo và mang tính đặc trưng của vùng đất và con người xứ Quảng nói chung và Đà Nẵng nói riêng.

Nghệ thuật Bài chòi ở Đà Nẵng mang đậm chất sân khấu nhỏ, đầy tính ngẫu hứng, thể hiện cốt cách, đặc trưng văn hóa của cư dân địa phương, lưu giữ phương ngữ, phong tục, tập quán trong các câu hô/hát Bài chòi. Sinh hoạt Bài chòi là một hình thức giải trí độc đáo của người dân vào dịp Tết, lễ hội đình làng, lễ cúng tiền hiền hay lễ hội Cầu ngư,... trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân ở khu vực miền Trung nói chung và Đà Nẵng nói riêng. Sinh hoạt Bài chòi mang tính cộng đồng cao trong diễn xướng và thưởng thức, góp phần tăng tính đoàn kết, cố kết cộng đồng, đưa con người xích lại gần nhau hơn, góp phần tăng cường sự đoàn kết, ổn định của xã hội. Nghệ thuật Bài Chòi còn thể hiện tính nhân văn ở nhiều khía cạnh khác nhau, như: tình phụ mẫu, tình thầy trò, chồng vợ, sự hiếu nghĩa..., giáo dục con người về đạo đức, nhân cách sống, tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa,… hướng con người đến những giá trị, những chuẩn mực đạo đức cao đẹp.

Với giá trị tiêu biểu, Nghệ thuật Bài chòi ở Đà Nẵng được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21/11/2016.

Dương Anh

Theo Hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa

Liên kết website