Nhà ngục Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi
Di tích lịch sử Nhà ngục Kon Tum (phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum cũ hiện nay là phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi) còn được biết đến với các tên gọi Lao Ngoài, Lao sắt, Lao kẽm, Lao chính trị phạm và Nhà đày Kon Tum. Di tích gồm Lao Trong và Lao Ngoài.
Theo hệ thống quản lý nhà tù của Thực dân Pháp tại Đông Dương, Nhà ngục Kon Tum ban đầu là nhà lao hàng tỉnh, giam giữ khoảng 40 - 50 tù nhân, chủ yếu là tù thường phạm. Sau cao trào Cách mạng 1930 - 1931, hơn 500 tù chính trị bị đưa lên Kon Tum, buộc chính quyền Thực dân mở rộng quy mô, nâng cấp từ nhà lao hàng tỉnh thành Nhà đày cấp xứ Kon Tum.
Lao Trong
Lao Trong (Prison de Kon Tum) là nhà lao hàng tỉnh, chuyên giam giữ tù thường hoặc những người chịu mức án dưới 05 năm. Khi tù chính trị bị đưa lên Kon Tum năm 1930, Lao Trong có sức chứa khoảng 80 người, trong khi số tù thường xuyên giam giữ trước đó chỉ khoảng 30 - 35 người.
Theo hồi ký của Ngô Đức Đệ, Lao Trong có kiến trúc đơn giản, vách làm bằng đất trộn rơm, không có hệ thống tường bao kiên cố như nhiều nhà tù khác. Nhà lao được xây dựng theo kiểu pháo đài Vauban. Công trình gồm bốn dãy nhà liên hoàn tạo thành một hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 18m. Toàn bộ khu giam giữ chỉ có một cửa ra vào và hai chòi canh cao dành cho lính gác. Phía dưới các chòi canh có hai lô cốt ngầm. Từ vị trí chòi canh, lính có thể quan sát toàn bộ hoạt động bên trong và khu vực xung quanh nhà lao.
Khu vực trung tâm có một sân vuông nhỏ và một giếng nước. Mỗi dãy nhà rộng khoảng 3,5m; trong đó 2m lát ván làm nơi nằm nghỉ, phần còn lại là lối đi. Vách phía trong không xây kín mà dựng các cột đứng cách nhau khoảng 12cm. Ở hai đầu các dãy nhà có bốn buồng nhỏ, ba buồng dùng để giam phạt tù nhân và một buồng làm nơi làm việc của viên cai ngục.
Lao Ngoài
Lao Ngoài (Pénitencier de Kon Tum) là nhà đày cấp xứ, chuyên giam giữ tù nhân chịu án từ 05 năm trở lên và những người bị đày biệt xứ. Lao Ngoài còn được gọi là Lao kẽm, Lao sắt hoặc Lao Cầu Mới.
Lao Ngoài được dựng vào tháng 3 năm 1931, ban đầu dùng để giam giữ tù chính trị sau khi lao động trên công trường đường 14 trở về thị xã Kon Tum. Công trình nằm sát bờ sông Đăk Bla và gồm hai nhà giam. Khung nhà được làm bằng sắt, mái lợp tôn nên thường được gọi là Lao sắt hoặc Lao kẽm.
Nhà giam lớn có chiều dài khoảng 18 - 20m, chiều rộng khoảng 12 - 14m, sức chứa khoảng 100 tù nhân. Nhà giam nhỏ có quy mô nhỏ hơn, có thể giam giữ khoảng 60 người. Đặc điểm của Lao Ngoài là bốn phía không xây tường bao, từ bên ngoài có thể quan sát toàn bộ không gian bên trong. Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động tổ chức lực lượng, xây dựng Ban lãnh đạo Nhà ngục, thành lập Đội Cảm tử, Đội Quyết tử và các cuộc đấu tranh của tù chính trị chống chế độ lao dịch, đàn áp của Thực dân Pháp.
Hệ thống trại giam trên công trường Đường 14
Để phục vụ việc khai thác sức lao động tù nhân trên công trường Đường 14, Thực dân Pháp xây dựng các lán trại tạm tại Đăk Pao. Lán trại được thiết kế theo kiểu nhà tù, có sức chứa trên 300 người. Cột, kèo làm bằng cây rừng, mái lợp lá; bốn phía để trống nhưng được bao quanh bằng hệ thống dây thép gai dày đặc.
Bên trong lán có các sạp nằm bằng nứa đập dập, kết hợp hệ thống cùm cố định. Mỗi dãy sạp đều gắn cùm để quản lý tù nhân. Các vật dụng sinh hoạt như ống đựng nước uống, ống vệ sinh được treo dọc theo khu vực nằm nghỉ. Lán lính được dựng cách khu giam giữ khoảng 30m và có sức chứa khoảng 100 lính canh.
Chế độ lao dịch trên công trường Đường 14
Từ cuối năm 1930, Thực dân Pháp bắt đầu đưa tù chính trị từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Nha Trang và nhiều địa phương khác lên Kon Tum để phục vụ việc mở đường chiến lược nối Tây Nguyên với duyên hải miền Trung và Nam Lào. Trong thời gian từ tháng 12/1930 đến tháng 4/1931, có 297 tù chính trị bị đưa lên công trường Đường 14.
Công trường Đường 14 kéo dài từ Đăk Pao đến Đăk Pék, đi qua nhiều khu vực rừng núi hiểm trở. Tù nhân phải thực hiện các công việc nặng nhọc như phát rừng, đào đất, phá đá, san lấp mặt bằng, xẻ núi, bắc cầu và vận chuyển vật liệu. Mỗi ngày lao động kéo dài từ sáng đến chiều dưới sự giám sát của lính canh và cai ngục.
Điều kiện ăn ở, sinh hoạt của tù nhân hết sức thiếu thốn. Khẩu phần ăn chủ yếu là cơm trộn sắn, muối và các loại rau rừng. Nguồn nước sinh hoạt không bảo đảm vệ sinh. Tù nhân thường xuyên phải đối mặt với sốt rét, kiết lỵ, phù thũng và nhiều loại bệnh tật khác. Trong khi đó, chế độ chăm sóc y tế gần như không có.
Ngoài điều kiện lao động khắc nghiệt, tù nhân còn phải chịu các hình thức đánh đập, tra tấn và trừng phạt của Thực dân Pháp. Những người không hoàn thành định mức lao động hoặc bị cho là chống đối đều bị xử phạt bằng nhiều hình thức khác nhau.
Theo lý lịch di tích, chỉ trong khoảng sáu tháng đầu năm 1931, chế độ lao dịch hà khắc trên công trường Đường 14 đã làm chết khoảng hai phần ba số tù chính trị bị đưa lên Kon Tum. Nhiều người chết vì bệnh tật, đói rét, kiệt sức hoặc do bị đánh đập trong quá trình lao động khổ sai.
Trước tình trạng đó, tù chính trị tại Nhà ngục Kon Tum đã bí mật liên kết, tổ chức lực lượng đấu tranh nhằm phản đối chế độ lao dịch và bảo vệ quyền sống của tù nhân. Từ đây hình thành các tổ chức lãnh đạo đấu tranh trong nhà ngục và trên công trường Đường 14.
Tổ chức đấu tranh trong nhà ngục Kon Tum
Để lãnh đạo phong trào đấu tranh của tù chính trị, một Ban lãnh đạo Nhà ngục được thành lập gồm các đồng chí Hồ Độ, Trương Quang Trọng, Lê Viết Lượng, Nguyễn Huy Lung, Đặng Thái Thuyến, Ngô Đức Đệ và nhiều chiến sĩ cách mạng khác.
Ban lãnh đạo Nhà ngục tổ chức các hoạt động cứu tế tù nhân, chăm sóc người ốm đau, truy điệu những người hy sinh trên công trường Đường 14 và xây dựng các tổ chức đấu tranh trong nhà lao.
Trong quá trình hoạt động, tù chính trị đã thành lập Đội Cảm tử và Đội Quyết tử nhằm bảo vệ lực lượng, giữ vững tổ chức và chuẩn bị cho các cuộc đấu tranh tập thể chống lại chế độ lao dịch của Thực dân Pháp.
Thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và tổ chức đấu tranh, lực lượng tù chính trị tại Nhà ngục Kon Tum đã xây dựng được tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh và khả năng tổ chức tập thể trong điều kiện giam cầm khắc nghiệt.
Cuộc đấu tranh lưu huyết và tuyệt thực tháng 12/1931
Đến cuối năm 1931, trước chính sách lao dịch hà khắc trên công trường đường 14 cùng tình trạng tù nhân bị đánh đập, bệnh tật và tử vong ngày càng nhiều, Ban lãnh đạo Nhà ngục Kon Tum đã tổ chức đấu tranh phản đối việc tiếp tục đưa tù nhân trở lại Đăk Pék làm đường.
Ngày 12/12/1931, khi Thực dân Pháp tổ chức đưa tù nhân từ Lao Ngoài lên công trường Đăk Pék, toàn thể tù chính trị đã đồng loạt phản đối và kiên quyết không chấp hành lệnh áp giải. Cuộc đấu tranh diễn ra ngay tại khu vực Nhà ngục Kon Tum. Trước sự phản kháng của tù nhân, Thực dân Pháp huy động lực lượng đàn áp, sử dụng vũ lực để cưỡng bức tù nhân lên đường.
Trong quá trình đàn áp, Thực dân Pháp đã nổ súng vào đoàn tù chính trị. Nhiều người bị thương và hy sinh. Sự kiện này được ghi nhận trong lịch sử với tên gọi “Cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12 tháng 12 năm 1931”.
Sau cuộc đàn áp đẫm máu, tù chính trị tiếp tục tổ chức đấu tranh bằng hình thức tuyệt thực để phản đối chế độ lao dịch, việc đánh đập tù nhân và yêu cầu cải thiện điều kiện giam giữ. Cuộc tuyệt thực diễn ra với sự tham gia của đông đảo tù chính trị trong Nhà ngục Kon Tum.
Mặc dù bị đàn áp, các cuộc đấu tranh của tù chính trị tại Nhà ngục Kon Tum vẫn được duy trì và có ảnh hưởng rộng lớn. Các sự kiện diễn ra trong tháng 12 năm 1931 đã trở thành những dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh của tù chính trị tại Kon Tum.
Sau khi Nhà ngục Kon Tum bị giải thể vào năm 1935, nhiều hạng mục công trình dần bị phá hủy hoặc thay đổi qua thời gian. Tuy nhiên, khu vực di tích vẫn lưu giữ những dấu tích gắn với quá trình hình thành, hoạt động của Nhà ngục Kon Tum và các cuộc đấu tranh của tù chính trị trong những năm 1930 - 1931.
Hiện nay, các công trình gốc của Nhà ngục Kon Tum không còn nguyên vẹn. Lao Ngoài chỉ còn lại một phần dấu tích nền móng, trong khi khu vực Lao Trong hiện là nơi xây dựng Nhà bia tưởng niệm 81 mộ Liệt sĩ
Trong khuôn viên di tích hiện có các hạng mục gồm hai ngôi mộ tập thể, gò đất, tượng đài Bất khuất, nhà trưng bày, nhà làm việc và hệ thống cây xanh, là nơi an táng 15 chiến sĩ cách mạng hy sinh trong Cuộc đấu tranh Lưu huyết và Cuộc đấu tranh Tuyệt thực tháng 12 năm 1931. Đây là một trong những điểm di tích gốc còn lại của Nhà ngục Kon Tum.
Hai ngôi mộ được tôn tạo với kích thước và hình thức giống nhau, xây thẳng hàng, mặt ngoài ốp đá granit màu đỏ. Phía trước mộ đặt bia ghi danh 15 đồng chí hy sinh, gồm 8 đồng chí hy sinh trong Cuộc đấu tranh Lưu huyết và 7 đồng chí hy sinh trong Cuộc đấu tranh Tuyệt thực.
Gò đất: là dấu tích gốc còn lại trong khuôn viên của di tích Nhà ngục Kon Tum. Đây là nơi Thực dân Pháp bắt tù chính trị gánh đất đắp mố cầu qua sông Đăk Bla trong mùa mưa năm 1931.Hiện nay gò đất cao khoảng 02m, đường kính khoảng 30m.
Tượng đài Bất khuất Nhà ngục Kon Tum: được đặt phía trước hai ngôi mộ tập thể. Công trình gồm phần đế và nhóm tượng, có tổng chiều cao 6,1m. Phần đế xây bằng gạch và bê tông cốt thép, bên ngoài ốp đá granit màu đỏ. Phần tượng gồm ba nhân vật trong tư thế bị xiềng xích. Hai người đứng đỡ một đồng chí bị thương, tay còn lại nắm chặt giơ lên cao.
Nhà trưng bày: là nơi lưu giữ, giới thiệu tư liệu, hình ảnh và hiện vật liên quan đến lịch sử Nhà ngục Kon Tum. Công trình được thiết kế theo dạng khối gồm bốn hình lục giác ghép lại với nhau, mô phỏng kiến trúc nhà sàn của người Bah Nar. Công trình có hệ thống cột bê tông cốt thép chịu lực, mái lợp ngói mũi hài màu đỏ. Nội dung trưng bày được bố trí tại tầng hai; chính giữa nhà trưng bày là khu vực hai ngôi mộ tập thể.
Với những giá trị tiêu biểu trên, di tích lịch sử nhà ngục Kon Tum đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11/02/2026./.
Tuyết Chinh
Theo hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa






.png)
.jpg)