Quần thể di tích đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, tỉnh Bắc Ninh
Quần thể đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà (phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh), gồm ba công trình chính là đình Thổ Hà, chùa Thổ Hà (Đoan Minh tự) và từ chỉ Thổ Hà. Là một chỉnh thể gắn kết mật thiết, phản ánh chiều dài lịch sử hình thành, phát triển và biến chuyển của làng Thổ Hà qua nhiều thế kỷ. Các công trình được hình thành từ thời Lê Trung Hưng và tiếp tục được tu bổ, tôn tạo qua nhiều giai đoạn lịch sử.
Theo văn bia “Thủy tạo đình miếu bi”, đình Thổ Hà được khởi dựng từ năm 1685. Năm 1687 dân làng mở hội mừng công; năm 1689 xây dựng đền miếu; năm 1691 xây dựng Tam quan và năm 1692 tiếp tục xây dựng Long môn. Trong quá trình tồn tại, đình được tu sửa vào các năm 1979, 1987 và giai đoạn 2010–2011.
Chùa Thổ Hà có tên chữ là Đoan Minh tự. Các dấu tích hiện còn cho thấy chùa được hình thành từ thế kỷ XVII. Văn bia niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 (1679) cho biết Tam quan và Gác chuông đã được xây dựng trong giai đoạn này. Sang thế kỷ XVIII và XIX, nhiều lần tu sửa, xây dựng tiếp tục được ghi nhận qua hệ thống văn bia còn lưu giữ tại chùa.
Từ chỉ Thổ Hà được xây dựng năm 1680 để thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền. Công trình được trùng tu năm 1704, tu tạo năm 1749, xây thêm từ vũ năm 1767, chuyển đến vị trí hiện nay năm 1794, xây dựng lại Hậu cung năm 1825 và xây dựng thêm Tiền tế năm 1856.
Đình Thổ Hà có diện tích 3.385,5m², quay hướng Nam chếch Tây, thờ Lý Bá Dương và Thân Mẫu của Lý Bá Dương. Công trình có mặt bằng hình chữ Công (工), gồm các hạng mục: Nghi môn ngoại, Nghi môn nội, Tả vu, Hữu vu, Tiền tế, Đại đình, Ống muống và Hậu cung.
Hai nghi môn được xây dựng theo kiểu trụ biểu, gồm hai cột đồng trụ tạo thành lối ra vào chính. Thân trụ đắp câu đối chữ Hán, đỉnh trụ đắp hình nghê chầu.
Hai dãy Tả vu và Hữu vu có quy mô 05 gian 02 chái, kết cấu tương đồng nhau. Tường xây gạch phủ vữa, mái lợp ngói mũi, nền lát gạch vuông đỏ truyền thống. Hệ thống khung chịu lực gồm 06 vì liên kết theo kiểu chồng rường giá chiêng, trên các cấu kiện trang trí hoa văn vân mây và kỷ hà.
Tòa Tiền tế gồm 3 gian 2 chái, dài 17,07m, rộng 9,62m, cao 5,6m. Bộ khung gồm 10 cột cái và 16 cột quân. Mái lợp ngói mũi hài; bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nhật, hai đầu bờ nóc đắp vân xoắn. Các vì mái liên kết theo kiểu chồng rường, giá chiêng và cốn mê. Trên các cấu kiện xuất hiện nhiều đề tài trang trí như tứ linh, tứ quý, chữ vạn, lá lật, vân mây và hoa văn kỷ hà.
Đại đình là hạng mục trung tâm của công trình, gồm 03 gian 02 chái, dài 28,85m, rộng 14,95m, cao 7,1m. Mái đình rộng với bốn đầu đao cong; bờ dải đắp gạch rỗng hoa chanh. Quanh hiên có 24 đầu bẩy chạm hình đầu rồng. Tường xây kiểu tường lửng kết hợp các ô thoáng hoa chanh và hệ thống chấn song gỗ. Cửa theo kiểu thượng song hạ bản, nền lát gạch vuông truyền thống.
Hệ thống kết cấu của Đại đình gồm 04 vì chính và các vì phụ tại 02 gian chái. Hai vì ngoài liên kết theo kiểu chồng rường, cốn mê; hai vì giữa liên kết theo kiểu chồng rường, trụ giá chiêng. Các đầu dư, bẩy hiên, cốn vì và cửa võng được chạm khắc dày đặc với các đề tài rồng, nghê, phượng, hổ phù, tiên nữ, linh vật, cây cỏ và các cảnh sinh hoạt dân gian. Kỹ thuật thể hiện gồm chạm nổi, chạm lộng và chạm bong kênh.
Một trong những bộ phận nổi bật của đình là hệ thống ván gió với số lượng lớn hình tượng tiên nữ và linh vật. Hình ảnh tiên nữ xuất hiện trên ván gió, vì nách và hương án với nhiều tư thế khác nhau. Bên cạnh đó còn có hơn 60 hình lân được chạm khắc trên các cấu kiện kiến trúc.
Nối Đại đình với Hậu cung là tòa Ống muống gồm 02 gian, dài 3,9m, rộng 6,09m, cao 5,36m. Công trình có mái lợp ngói mũi, hai bên xây tường bao kín; các vì liên kết theo kiểu con chồng đấu kê trụ giá chiêng. Tại đây hiện còn lưu giữ Cửa võng đình Thổ Hà.
Cửa võng được tạo tác trong khoảng thời gian từ năm 1685 đến năm 1692, gồm ba tầng, được sơn son thếp vàng. Tầng trên có hệ thống cột chạm rồng cuốn và năm đầu rồng bằng gốm màu nâu. Tầng giữa trang trí các đề tài lưỡng long chầu nhật, tứ quý, trúc hóa rồng, lưỡng long tranh châu; riêng ba khám chính có 36 đầu rồng được chạm khắc với nhiều hình thức khác nhau. Tầng dưới trang trí các đề tài rồng, linh thú, tượng voi và hình người. Toàn bộ hiện vật được thực hiện bằng các kỹ thuật chạm bong kênh, chạm lộng, chạm nổi và chạm thủng.
Hậu cung gồm một gian, dài 10,19m, rộng 5,16m, cao 5,46m. Bên trong dựng hệ thống ván gỗ tạo thành thượng cung, đặt hai khám thờ có ngai và bài vị. Mái lợp ngói mũi; tường xây kiểu hồi bít đốc; hai hồi đắp hình hổ phù.
Chùa Thổ Hà (Đoan Minh tự)
Chùa Thổ Hà có tổng diện tích 7.142,9m², quay hướng Nam, phía trước là đình Thổ Hà, tạo thành bố cục theo kiểu “tiền Thần, hậu Phật”. Tổng thể chùa được xây dựng theo bố cục Nội công ngoại quốc, gồm Tam quan, Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, Hậu đường, Nhà Tổ, đăng đối hai bên là hai dãy hành lang, một đầu nối vuông góc với hai hồi tòa Tiền đường, đầu kia nối với hai hồi của Hậu đường tạo nên mặt bằng khép kín.
Tam quan dài 18m, xây dựng theo kiểu tam quan gác chuông hai tầng mái, tường hồi bít đốc với ba cửa ra vào. Kết cấu sử dụng gỗ lim, liên kết theo kiểu chồng rường giá chiêng. Trên các bộ phận kiến trúc xuất hiện các đề tài trang trí rồng, phượng và mây lửa.
Tiền đường gồm 05 gian 02 chái, dài 23,77m, rộng 9,45m, cao 5,425m. Mái lợp ngói mũi, bờ nóc xây gạch chỉ gắn gạch rỗng hoa chanh, chính giữa đắp trang trí biển đề chữ Hán “Đoan Minh tự”. Bờ dải, bờ guột xây gạch chỉ gắn gạch rỗng hoa chanh. Hai đầu hồi chái phía trước chùa xây tường hồi đỡ lấy mái đao. Phía trước 05 gian giữa tòa Tiền đường chùa lắp cửa bức bàn, hai bên hồi chái được bưng kín bằng gỗ, tất cả cánh cửa đều được đặt trên bạo cửa và ngưỡng cửa tạo sự liên kết chắc chắn hệ bộ khung cửa. Bộ khung gồm 08 vì, liên kết theo kiểu chồng rường đấu kê và chồng rường đấu kẻ moi. Các cấu kiện được trang trí vân mây và lá lật.
Thiêu hương gồm 03 gian nằm vuông góc, nối liền Tiền đường với Thượng điện để tạo nên mặt bằng chữ “Công” hoàn chỉnh, dài 5,4m, rộng 8,97m, cao 5,425m. Nền Thiêu hương lát gạch vuông 30cm x 30cm. Móng được bó vỉa bằng gạch chỉ, phía ngoài phủ vữa áo. Mái lợp bằng ngói mũi, bờ nóc để trơn không trang trí hoa văn, trên phủ vữa áo, tạo những đường gờ chạy song song. Đỡ hoành mái là bộ 4 vì mái kết cấu theo kiểu chồng rường. Tại hai gian giữa còn bảo lưu lớp cửa võng với các đề tài lưỡng long chầu nguyệt và cúc hóa rồng.
Thượng điện gồm 01 gian 02 chái, dài 10,87m, rộng 10,05m, cao 5,825m. Kết cấu vì mái liên kết theo kiểu chồng rường, đấu kê. Không gian thờ tự bên trong bài trí hệ thống tượng Phật gồm Tam Thế, Phật Tổ Như Lai, A Di Đà, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Cửu Long, Thích Ca sơ sinh, Đức Ông, Thánh Hiền, Thập Điện Diêm Vương, Quan Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí, Phạm Thiên và Đế Thích. Phía sau Thượng điện là động Quan Âm.
Hai dãy hành lang có chiều dài 15,54m, rộng 4,71m, cao 4,65m; mỗi dãy gồm 6 gian. Kết cấu theo kiểu vì kèo độc trụ và mỗi dãy bài trí 9 pho tượng La Hán.
Hậu đường gồm 05 gian 02 chái, dài 23,77m, rộng 8,31m, cao 5,425m. Bốn vì gian hồi liên kết theo kiểu chồng rường đấu kê; bốn vì gian giữa liên kết theo kiểu độc trụ giá chiêng. Các cấu kiện kiến trúc tại Hậu đường đều được bào trơn đóng bén.
Nhà Vong và Nhà Ni gồm 05 gian, kết cấu 06 vì theo kiểu chồng rường đấu kê trụ giá chiêng. Nhà Tổ và Nhà Mẫu có mặt bằng hình chữ Công, gồm Tiền tế 09 gian, Ống muống 01 gian và Thượng điện 03 gian. Trên các con chồng trang trí lá lật, vân xoắn và hoa văn kỷ hà.
Hiện nay chùa còn lưu giữ gần 100 pho tượng Phật được tạo tác chủ yếu bằng gỗ và đất, cùng hệ thống bia đá, bát hương gốm Thổ Hà và nhiều hiện vật thờ tự khác.
Từ chỉ Thổ Hà
Từ chỉ Thổ Hà nằm ở cuối làng, gần bến đò sông Cầu. Công trình có mặt bằng hình chữ Nhị (二), gồm hai hạng mục chính là Tiền tế và Hậu cung.
Tòa Tiền tế gồm 05 gian 02 dĩ, dài 13,17m, rộng 6,96m, cao 4,3m. Tường xây gạch chỉ phủ vữa, mái lợp ngói mũi. Bờ nóc và bờ chảy gắn gạch rỗng hoa chanh. Tường hồi xây theo kiểu tay ngai trụ biểu, đỉnh trụ gắn hình nghê. Mặt trước lắp hệ thống cửa bức bàn; nền lát gạch vuông truyền thống.
Bộ khung gồm 06 vì với 04 hàng chân cột. Các vì gian giữa liên kết theo kiểu chồng rường kẻ suốt; các vì gian dĩ liên kết theo kiểu chồng rường kẻ chuyền. Trên các con chồng và đầu kẻ trang trí lá lật, hoa văn kỷ hà và chữ Thọ cách điệu mang phong cách thời Nguyễn.
Từ chỉ là nơi thờ Khổng Tử và phối thờ các bậc tiên hiền, khoa bảng của làng Thổ Hà. Công trình hiện còn lưu giữ hệ thống kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc, tượng thờ, bia đá, tài liệu Hán Nôm và nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật gắn với quá trình hình thành và phát triển của làng cổ Thổ Hà.
Lễ hội truyền thống Thổ Hà
Lễ hội gắn liền với không gian văn hóa của quần thể đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà và các thiết chế tín ngưỡng khác trong làng. Theo tư liệu văn bia tại đình Thổ Hà, từ khi hoàn thành việc xây dựng các công trình tín ngưỡng vào cuối thế kỷ XVII, người dân Thổ Hà đã tổ chức hội mừng công và duy trì lễ hội hằng năm.
Theo lệ xưa, làng Thổ Hà có nhiều kỳ lễ hội trong năm, gồm hội mừng ngày sinh của Thánh từ ngày 07 đến ngày 09 tháng Giêng, hội Thượng nguyên tại chùa Đoan Minh vào ngày 22 tháng Giêng, hội đình vào ngày 22 tháng Hai (ngày hóa của Thành hoàng) và hội Thu từ ngày 06 đến ngày 10 tháng Tám.
Lễ hội Thổ Hà xưa được tổ chức theo quy ước của làng, các xóm luân phiên đảm nhiệm việc tổ chức rước kiệu. Không gian lễ hội diễn ra tại đình, chùa, từ chỉ và khu vực bến sông Cầu trước cửa đình. Các nghi thức tế lễ, rước được tổ chức trang nghiêm với đầy đủ nghi trượng, cờ quạt, kiệu, lọng và các thành phần tham gia theo quy định truyền thống. Đặc biệt, quy trình rước mô phỏng khúc ca khải hoàn thắng trận của Thành hoàng và kết thúc bằng nghi lễ tế bò khao quân.
Ngày nay, các nghi lễ truyền thống của đình, chùa và từ chỉ đã hòa chung vào lễ hội truyền thống Thổ Hà diễn ra trong các ngày 20, 21 và 22 tháng Giêng (Âm lịch). Lễ hội được tổ chức trong phạm vi đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà và khu vực bến sông Cầu phía trước đình; nghi thức rước truyền thống được tổ chức định kỳ hai năm một lần.
Diễn trình lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ bao gồm các nghi thức tế Thành hoàng tại đình, dâng hương tại chùa và các nghi lễ truyền thống khác. Không gian lễ hội được chuẩn bị từ ngày 19 tháng Giêng với việc dựng cờ trước đình, dựng cây nêu trước chùa, chuẩn bị nghi trượng, lễ vật và các hoạt động phục vụ lễ hội.
Phần hội diễn ra trên phạm vi toàn làng và khu vực bến sông Cầu với nhiều hoạt động văn hóa dân gian như đấu vật, chọi gà, đua thuyền bắt vịt, tổ tôm điếm, tam cúc, đấu cờ, hát tuồng cổ, hát quan họ, hát ca trù và hát chèo.
Bên cạnh lễ hội truyền thống của làng, tại từ chỉ Thổ Hà hằng năm còn tổ chức tế lễ vào ngày 7 tháng Giêng (lễ Thánh Sư) và ngày 14 tháng Tám (Âm lịch) để tưởng nhớ Khổng Tử và các bậc tiên hiền, khoa bảng của địa phương.
Với những giá trị tiêu biểu trên, Quần thể di tích đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11/02/2026./.
Tuyết Chinh
Theo hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa






.png)
.jpg)