Tri thức dân gian chế biến món cá nướng, vịt bầu lam và rượu men lá của người Tày, tỉnh Lào Cai
Cộng đồng cư trú của người Tày tại xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai trong không gian thung lũng ven suối, với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và khai thác nguồn lợi từ rừng, suối, đã hình thành nên một hệ tri thức ẩm thực đặc sắc, gắn bó mật thiết với môi trường sinh thái và đời sống văn hóa - xã hội. Tiêu biểu là kỹ thuật chế biến cá nướng hai lửa, vịt bầu lam ống nứa và rượu men lá, phản ánh sự tích lũy kinh nghiệm, tri thức bản địa và khả năng thích ứng của cộng đồng với tự nhiên.
Tri thức chế biến món cá nướng hai lửa thể hiện kinh nghiệm lựa chọn nguyên liệu và kiểm soát nhiệt độ trong quá trình chế biến món ăn của người Tày. Cá suối hoặc cá nuôi được chọn theo tiêu chí tươi, kích thước phù hợp, sau đó sơ chế và tẩm ướp bằng các gia vị tự nhiên đặc trưng như muối, ớt, mắc khén, hạt dổi. Điểm nổi bật là kỹ thuật “hai lửa”: nướng trên than hồng để làm chín và tạo hương thơm, rồi tiếp tục hong trên lửa nhỏ nhằm làm khô dần, giúp thịt cá săn chắc, đậm vị và kéo dài thời gian bảo quản. Kỹ thuật này phản ánh sự tinh tế trong chế biến, phù hợp với điều kiện bảo quản thực phẩm trong môi trường miền núi.
Đối với món vịt bầu lam ống nứa, tri thức dân gian được thể hiện qua sự kết hợp hài hòa giữa nguyên liệu và cách thức chế biến. Giống vịt bầu địa phương được lựa chọn nhờ đặc tính thịt chắc, ít mỡ. Thịt vịt sau khi tẩm ướp gia vị được cho vào ống nứa cùng với các loại lá rừng, gia vị, sau đó đặt trên than hồng và xoay đều. Cách lam trong ống nứa giúp giữ lại độ ngọt tự nhiên của thịt, đồng thời tạo hương thơm đặc trưng từ nứa và thảo mộc. Đây là kỹ thuật chế biến gắn liền với điều kiện sinh hoạt và nguồn nguyên liệu sẵn có của cư dân miền núi, thể hiện sự sáng tạo và khả năng tận dụng tài nguyên bản địa.
Tri thức chế biến rượu men lá là một biểu hiện tiêu biểu của tri thức sinh thái truyền thống. Men rượu được tạo ra từ sự kết hợp của nhiều loại lá, rễ và vỏ cây rừng, được lựa chọn và phối trộn theo kinh nghiệm riêng của từng gia đình hoặc dòng họ. Quá trình ủ men, lên men và chưng cất đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ về nhiệt độ, độ ẩm và thời gian. Sản phẩm rượu không chỉ mang hương vị đặc trưng mà còn phản ánh hiểu biết sâu sắc của cộng đồng về đặc tính sinh học của các loại thực vật và vi sinh vật trong quá trình lên men rượu.
Không gian thực hành các tri thức ẩm thực này chủ yếu diễn ra trong phạm vi gia đình và cộng đồng làng bản, đặc biệt trong các dịp lễ Tết, cưới hỏi, nghi lễ truyền thống và sinh hoạt thường ngày. Quá trình chế biến thường có sự tham gia của nhiều thành viên, tạo nên môi trường trao truyền tự nhiên giữa các thế hệ. Phương thức truyền dạy chủ yếu thông qua quan sát, thực hành trực tiếp và tích lũy kinh nghiệm, qua đó bảo đảm tính liên tục, tính thích ứng và sức sống của di sản.
Tri thức chế biến ẩm thực của người Tày mang ý nghĩa đa chiều. Trước hết là giá trị sử dụng, phục vụ trực tiếp đời sống sinh hoạt và sản xuất. Thứ hai là giá trị văn hóa – xã hội, gắn với các nghi lễ, tập quán và không gian sinh hoạt cộng đồng. Thứ ba là giá trị tri thức, đặc biệt là tri thức sinh thái truyền thống trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, bền vững. Thứ tư là giá trị kinh tế, khi các sản phẩm ẩm thực có khả năng tham gia thị trường và phát triển thành sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương.
Tri thức dân gian trong chế biến ẩm thực của người Tày ở Nghĩa Đô không chỉ là một tập hợp các kỹ năng nấu ăn mà còn là một hệ thống tri thức và thực hành di sản văn hóa phi vật thể, phản ánh đặc trưng bản sắc tộc người và năng lực thích ứng của cộng đồng với môi trường tự nhiên. Việc nhận diện, bảo vệ và phát huy giá trị di sản này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng văn hóa, củng cố sinh kế cộng đồng và hướng tới phát triển bền vững ở địa phương. Với những đặc trưng đó, tri thức chế biến cá nướng, vịt bầu lam và rượu men lá của người Tày ở xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai đã được Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể (tại Quyết định số 2194/QĐ-BVHTTDL ngày 27/6/2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)./.
Thành Nam
(Theo hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hoá)






.png)
.jpg)