Ngày 13 tháng 7 năm 2020
Liên kết website

Chùa Thái Lạc, tỉnh Hưng Yên

Chùa Thái Lạc (còn gọi là chùa Pháp Vân, Pháp Vân tự hay chùa Bà Cả), thuộc xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Chùa là nơi thờ Phật và thần Pháp Vân - một trong bốn vị thần Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) có nguồn gốc ở vùng Dâu (tỉnh Bắc Ninh).  

Chùa Thái Lạc (còn gọi là chùa Pháp Vân, Pháp Vân tự hay chùa Bà Cả), thuộc xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Chùa là nơi thờ Phật và thần Pháp Vân - một trong bốn vị thần Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) có nguồn gốc ở vùng Dâu (tỉnh Bắc Ninh).  

Căn cứ vào những nghiên cứu trước đây, qua phân tích phong cách nghệ thuật những mảng chạm, kiểu thức của các bộ vì nóc và bình đồ tòa Thượng điện cho biết chùa là một trong ba công trình kiến trúc bằng gỗ cổ nhất Việt Nam được khởi dựng vào thời Trần, cùng với chùa Dâu (tỉnh Bắc Ninh) và chùa Bối Khê (TP. Hà Nội).

Chùa Thái Lạc được khởi dựng trên gò đất cao, mặt tiền quay theo hướng Đông Nam, có bình đồ kiến trúc kiểu “nội công ngoại quốc” gồm các hạng mục công trình được bố trí hài hòa, đăng đối tạo thành một thể thống nhất, dàn trải theo trục Tây Bắc - Đông Nam bao gồm: Tam quan, sân chùa, Tam bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu cùng khu vườn tháp.

Tam quan: xây kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, cổng chính giữa được làm vượt hẳn lên so với hai cổng phụ. Trung tâm đường bờ nóc cổng cái trang trí hình tháp chín tầng. Phần mái với các đầu đao tạo tác kiểu hồi long vân cuốn, mái không rộng nhưng đều được đắp ngói ống, đường bờ nóc hình cong mui thuyền. Các cột trụ xây vuông, đắp gờ, kẻ nổi để thể hiện đôi câu đối chữ Hán miêu tả cảnh đẹp và ca ngợi uy linh của Tứ Pháp.

Tam bảo: Có kiến trúc theo kiểu chữ Công () gồm: Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện.

Tiền đường: là công trình kiến trúc có quy mô lớn nhất. Bốn phía xung quanh nền tiền đường đều được bó vỉa bằng gạch chỉ, phía ngoài phủ vữa áo. Bờ nóc gắn hoa chanh, chính giữa đắp hình chữ nhật, đề ba chữ Hán “Pháp Vân tự”.

Tiền đường gồm 09 gian, kiểu tường hồi bít đốc, lợp ngói Di truyền thống. Bộ khung kết cấu kiểu bốn hàng chân cột. Hệ thống các bộ vì nóc đều được tạo tác theo kiểu “chồng rường giá chiêng”. Vì nách kiểu “ván mê” (ở ba gian giữa) và kiểu “bán chồng rường” (những gian còn lại). Tất cả các cấu kiện kiến trúc đều làm bằng gỗ lim, các mảng chạm khắc, trang trí tại Tiền đường chùa Thái Lạc chủ yếu mang phong cách và đặc trưng của mỹ thuật thời Nguyễn với nhiều đề tài trang trí khác nhau được thể hin trên các cốn mê trên vì nách Tiền đường: đề tài tứ linh (long, ly, quy, phượng), đề tài tùng lộc, đề tài hoa văn cây cỏ. Bên trong Tiền đường bài trí một số pho tượng như Đức Ông, Thánh hiền, Hộ pháp,... cùng các bức hoành phi, câu đối và đồ thờ tự có giá trị.

Thiêu hương: còn được gọi là ống muống, nối liền Thượng điện và Tiền đường (dài 2,6m, rộng 4,2m), mặt nền thấp hơn Thượng điện, gồm 2 gian. Tường xây gạch chỉ, trát vôi vữa, mái lợp ngói mũi. Hệ thống đỡ hoành mái là các bộ vì được làm theo kiểu vì kèo đơn giản, để trơn không trang trí hoa văn. Bộ vì tiếp giáp với thượng điện được làm theo kiểu “cốn mê”, trang trí hình ảnh rồng và long mã, sản phẩm của nghệ thuật thời Nguyễn cuối thế kỷ XIX.

Thượng điện: gồm 01 gian 02 chái, nối vuông góc với tòa Thiêu hương, dài 10m x rộng 8.5m. Nền cao hơn nền hai tòa Thiêu hương và Tiền đường. Kết cấu kiểu 4 hàng chân cột, cột cái có đường kính 0,45m x cao 2,95m.

Thượng điện chùa Thái Lạc là một kho tàng “vô tiền khoáng hậu” về nghệ thuật điêu khắc kiến trúc gỗ cổ truyền của dân tộc. Nơi đây còn lưu giữ được 20 bức phù điêu gỗ cổ mang phong cách thời Trần mà ở đó có những tiêu bản là duy nhất. Đặc biệt, hai bộ vì nóc gian giữa Thượng điện được tạo tác theo kiểu “giá chiêng” trong lồng lá đề chạm cảnh hai tiên nữ đầu người mình chim đang dâng hoa. Loại hình này ở nước ta rất hiếm, ngoài chùa Thái Lạc chỉ còn thấy ở chùa Dâu và chùa Bối Khê. Đề tài điêu khắc trang trí tập trung chủ yếu trên các mảng cốn, ván lá đề giữa hai cột trụ trốn. Các mảng cốn ở đây đều được chạm khắc chi tiết, tỷ mỷ, chau chuốt kín hai mặt. Cốn lớn cao 90cm x rộng 90cm, cốn nhỏ cao 50cm x rộng 40cm thể hiện các đề tài: hình người, linh vật, hoa lá và các hoa văn.

Đề tài hình người: là một đề tài rất hiếm thấy trong điêu khắc Việt Nam thời Trần, trong đó có các mảng chạm có giá trị tiêu biểu:

+ Dàn nhạc ba người: với các nhạc công đang ngồi xếp bằng tròn trên mây, mặt nhìn hơi chếch về phía bên trái, mỗi người biểu diễn một nhạc cụ: người đàn ông ngồi giữa đánh đàn tranh và hai người phụ nữ ở hai bên mang đàn tỳ bà và đàn tam. Những người này đã mang hình thức gần gũi với lối trang phục đời thường, xiêm y nhiều lớp, khác hẳn những nhạc sỹ thiên thần (Gandharva) thời Lý về động tác, trang phục và cả bộ mặt. Mặc dù hình tượng trên vẫn gắn với Phật giáo, song khá thanh tao thoát tục, để tiếng nhạc của họ vẫn đậm chất thiên thần, trong một “không gian thánh thiện”.

+ Tiên nữ dâng hoa: di tích còn lưu giữ được khá nhiều các bức cốn cổ chạm khắc cảnh tiên nữ đầu người mình chim (Kinnara) dâng hoa với nhiều dạng thức khác nhau. Một dạng thể hiện đơn độc được chạm khắc trên những mảng cốn hình chữ nhật. Một dạng thể hiện đôi chầu vào giữa, cùng dâng hoa, được bố cục chạm nổi trong lòng chiếc lá đề. Một dạng khác cũng thể hiện đôi song cả hai cùng hướng về một phía, thể hiện động tác dâng hoa hướng vào trung tâm. Tất cả những Kinnara được chạm khắc cân đối, có nửa trên mang thân phụ nữ, nửa dưới là chim có đuôi dài, cánh mở rộng, đầu búi tóc ngược lên đỉnh, áo bó sát người, đầu hơi nghiêng về phía sau và đôi tay kính cẩn dâng bình hoa về phía trước cúng dường mười phương chư Phật.

+ Nhạc công ngồi trên lưng chim phượng tấu nhạc: là một đề tài ở Việt Nam hiện chỉ thấy tại chùa Thái Lạc. Các nhạc công đều ngồi trên lưng chim phượng tấu nhạc, được chạm trên hai cốn lớn, mỗi mặt có hai nhạc công, có hình dáng, khuôn mặt, phục sức tương tự như bức chạm cảnh dàn nhạc ba người tại chùa và các tiên nữ tại chùa Dâu (Bắc Ninh). Tất cả đều ngồi quay ngang một bên, mặt nhìn thẳng chính diện. Mỗi người biểu diễn một nhạc cụ: dần tỳ bà, đàn nguyệt, đàn nhiều dây, nhị, tiêu, sáo,…

+ Hình Phỗng: trên các cột trụ trốn vì nóc Thượng điện chùa có chạm khắc các chú bé bầu bĩnh, ngộ nghĩnh, trong tư thế chân quỳ chân chống, đầu và tay đỡ đài sen, cổ đeo dây anh lạc, đôi vai mở rộng, cởi trần, bụng phệ, váy cũn cỡn, đi hài nhọn mũi,…. Đây là một trong không nhiều mẫu vật quý, hiếm mang phong cách thời Trần. Các trụ trốn chạm hình phỗng có chiều cao 47cm, rộng 35cm.

 Đề tài linh vật:

+ Rồng: Thượng điện chùa hiện còn lưu giữ một số mảng cốn chạm rồng đặc sắc trên các xà nách. Đặc biệt, có con được bố trí ẩn hiện trong mây, đó là hiện tượng mây ám thân rồng đầu tiên tìm được trong nghệ thuật tạo hình Việt. Hình tượng rồng tại Thượng điện chùa được thể hiện dưới hai dạng: chạm rồng thời Lý và rồng chầu lá đề thời Trần.

+ Chim thiêng: chim phượng được các nhạc sĩ thiên thần cưỡi, được tạo tác với mỏ to, dài, quặp như mỏ vẹt, hai cánh dang rộng, đuôi doãng uốn lượn hình sin cong lên đầu, hai chân to khỏe đứng trên hoa sen hay đạp lên những đám mây.

Đề tài hoa lá, vân mây: lá đề, hoa sen, vân mây, dây leo,…

Có thể khẳng định, những bức cốn cổ mang phong cách thời đại nhà Trần hiện chỉ còn được lưu giữ tại Thượng điện chùa Thái Lạc. Nghệ nhân dùng đục nẩy trên gỗ rắn, những đường nét làm thành các hình như được vẽ bằng bút. Nếu ở hình phỗng quỳ đội tòa sen, chất hội họa kết hợp dè dặt với điêu khắc, đường nét chỉ phụ họa cho mảng khối, thì đến những hình hoa dây, sóng nước, đặc biệt là các hình tiên nữ, nhạc công đang biểu diễn, nghệ nhân dân gian đã sử dụng thứ ngôn ngữ chính là đường nét, hình chạm nổi mà chất hội họa đậm hơn cả điêu khắc, nét chạm như nét vẽ, tinh sắc và thoải mái, góp phần miêu tả một cách ngắn gọn xúc tích về đời sống xã hội và nghệ thuật Phật giáo nước Đại Việt lúc bấy giờ.

Ngoài ra, thông qua những tác phẩm điêu khắc này cho thấy khá rõ sự giao lưu văn hóa, sự ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc, văn hóa Nam Á vào nền mỹ thuật truyền thống dân tộc.

Nhà Tổ (Hậu đường): theo Bia đá niên hiệu Chính Hòa 24 dựng tại vườn chùa ghi rõ kích thước các cây cột cái gian giữa và vị trí của nhà Tổ hiện nay chính là vị trí của Gác chuông được dựng vào năm 1703.

Nhà Tổ gồm 7 gian, khung gỗ, vì nóc được kết cấu theo kiểu “chồng rường đấu kê”. Đây là nơi đặt ban thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, hai gian bên cạnh thờ Đức đệ nhị Pháp chủ Thích Tâm Tịch và các vị sư Tổ kế thế tại chùa.

Hai dãy hành lang: chạy dọc song song hai bên sườn Thượng điện và Thiêu hương, gian cuối nối với hạng mục nhà Tổ. Mỗi dãy hành lang gồm 07 gian (dài 18m x rộng 4m x cao 3,5m). Hệ thống vì nóc được làm theo kiểu “con chồng đấu kê”.

Nhà Mẫu: gồm 03 gian được làm theo kiểu tường hồi bít đốc, vì nóc được làm theo kiểu “con chồng đấu kê”.

Vườn tháp: gồm 05 ngôi tháp dựng bằng gạch, trong đó, có ngôi tháp cổ 3 tầng thời Nguyễn.

Với những giá trị nổi bật trên, Thủ tướng Chính phủ đã xếp hạng chùa Thái Lạc là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1820/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2018./.

 

                                                                                                     Khánh Chi

                                                          Theo hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa

Liên kết website